Chỉ Đỏ Buộc Nắp Quan Ven Đầm Sen Cạn
Chương 7: Vết Tích Dưới Lòng Bùn
Tiếng khóc the thé của đứa trẻ sơ sinh vừa cất lên xé toạc màn đêm đặc quánh thì Biện Văn Thảo trên sập gỗ giật bắn người choàng tỉnh. Cậu thanh niên thở hổn hển, hai mắt mở trừng trừng nhìn vào khoảng tối mịt mùng, giọng run rẩy thất thanh: — Thầy... thầy ơi! Tiếng ai khóc... khóc trong ván gỗ vậy thầy?
Bá Cương không đáp lời ngay. Bản lĩnh của người thợ cả ba đời từng trải qua bao phen đối mặt với cõi âm giúp ông ghìm chặt nỗi kinh hoàng đang cuộn lên nơi lồng ngực. Bàn tay thô ráp của ông quờ nhanh vào vách nứa, rút bao diêm Thống Nhất. Một tiếng “xoẹt” dứt khoát vang lên, đốm lửa bừng sáng soi rõ gương mặt đanh lại của người thợ già.
Châm lại bấc đèn chai, Bá Cương tiến nhanh tới mé sập, đặt bàn tay rắn rỏi lên vai con trai, ấn mạnh: — Bình tĩnh lại! Ngậm ngay lát gừng già dưới lưỡi, hít sâu giữ ấm đan điền. Tuyệt đối không được để tử khí thừa cơ làm loạn tâm thần!
Thảo run lẩy bẩy vâng lời, nhét vội miếng gừng tươi vào miệng. Vị cay nồng xộc lên làm sống mũi cậu cay xè, nhưng lồng ngực đã vơi bớt cơn co thắt hoảng loạn.
Lúc này, tiếng móng tay cào sột soạt và tiếng rấm rứt ai oán từ đáy cỗ áo quan gỗ dâu rừng vẫn chưa dứt, nghe như tiếng hờ nghẹn ngào từ chín tầng bùn sâu vọng lên cõi sống. Bá Cương bước tới bên hàng gạch mộc, rút ba nén hương trầm cắm vào bát gạo cúng, rồi rót chén rượu trắng tưới một vòng quanh chân quan tài. Ông chắp hai tay trước ngực, giọng trầm đục mà trang nghiêm cất lên: — Oan hồn chớ vội hờn dỗi. Kẻ bốc mộ này đã nhận việc thì tất giữ trọn đạo nghĩa với người khuất mặt. Đêm nay xin hãy yên giấc, món nợ máu xương ắt có ngày sáng tỏ trước thanh thiên bạch nhật.
Dứt lời khấn của người thợ cả, luồng gió buốt quanh cỗ quan bỗng chùng xuống. Tiếng cào cấu thưa dần rồi tắt hẳn, trả lại gian điếm canh đê sự tịch mịch lạnh lẽo giữa tiếng gió bấc gầm gào ngoài bãi vắng.
Tang tảng sáng, sương muối phủ một lớp màng trắng đục lên rặng duối già và những gốc sen khô queo quắt ngoài đầm. Đêm kinh hoàng trôi qua, để lại bầu không khí ẩm mốc trĩu nặng trong điếm canh đê số 4.
Bá Cương khoác lên mình manh áo tơi lá gồi, giắt cây dao bài gia truyền vào thắt lưng vải gai. Thấy Thảo tuy sắc mặt còn xanh xao nhưng ánh mắt đã lấy lại vẻ kiên định, ông khẽ dặn dò: — Thầy quay lại bãi Mả Bụt một chuyến để xem xét kỹ nơi hạ huyệt cũ. Con ở lại điếm, đóng chặt then cài, tuyệt đối không cho ai lại gần cỗ ván dâu rừng. Lò than hun bồ kết phải giữ cho bén khói ấm để xua tử khí, nếu có biến cố gì thì cứ gõ ba tiếng thanh la báo hiệu.
Thảo đứng thẳng người, siết chặt chiếc đòn xóc tre trong tay, gật đầu quả quyết: — Thầy cứ yên tâm. Con canh giữ ở đây, quyết không rời nửa bước.
Rời điếm canh đê, Bá Cương rảo bước men theo triền đất ẩm xuôi về phía bãi Mả Bụt. Trời vừa hửng rạng, sương sớm chưa tan hết đã thấy vài xã viên quang gánh đi sớm ra đồng rau. Thấy bóng dáng quắt thước của ông Biện lầm lũi trong manh áo tơi lá gồi, mấy người đàn bà túm tụm bên bờ mương vội ghé gánh, xì xào to nhỏ với vẻ mặt hoang mang: — Đêm qua bên điếm đê có tiếng trẻ con khóc rấm rứt rõ mồn một, gió đưa về tận xóm Đông... Có khi nào đụng phải mả kết, quỷ dữ về đòi mạng không các bà?
Một người khác ghé tai chêm vào, giọng run bần bật: — Chứ còn gì nữa! Sáng sớm nay vợ anh Khoái chạy sang trạm xá khóc mếu máo. Cả anh Khoái với anh Dần sốt hầm hập từ nửa đêm, mồm sùi bọt mép nói lảm nhảm toàn chuyện ma áo nâu cào rách mặt. Hai người sợ đến mức run như cầy sấy, cửa đóng then cài không dám bước chân ra khỏi ngưỡng cửa đâu!
Nghe những lời bàn tán sau lưng, Bá Cương chỉ lặng thinh rảo bước. Lòng ông nặng trĩu. Tử khí và oán hận từ cỗ ván gỗ dâu rừng đã bắt đầu lan tràn, làm kinh động cả xóm làng. Nếu không sớm tìm ra manh mối để hóa giải tà thuật, chẳng những hai người thợ phụ khó giữ tính mạng mà tai ương sẽ còn giáng xuống nhiều người khác.
Đến bãi Mả Bụt, cảnh tượng hoang tàn sau đêm đào xới hiện ra trơ trọi. Hố huyệt nơi vừa cất cỗ ván áo quan gỗ dâu đêm qua giờ chỉ còn là một vũng bùn lầy sâu hoắm, nước phèn đỏ quạch sủi bọt lăm tăm, bốc mùi tanh nồng nặc lấn át cả hơi sương giá.
Nhớ lại ảo ảnh người phụ nữ không mặt trong giấc mộng canh tư — bóng ma giơ bàn tay dập nát tướm máu chỉ thẳng xuống đáy bùn đầm sen đòi lại đứa con — Bá Cương linh cảm sâu sắc rằng dưới đáy huyệt này vẫn còn vết tích oan khiên bị chôn vùi.
Không chút ngần ngại, ông xắn cao ống quần nâu sồng, lội thẳng xuống lòng hố. Lớp bùn nhão lạnh thấu xương ngập quá đầu gối, từng luồng nước phèn buốt giá cắn rách da thịt.
Bá Cương khom lưng trong bùn, cẩn trọng dùng hai bàn tay trần mò mẫm từng tấc đất theo đúng phép đãi cát tìm xương của thợ bốc mả gia truyền. Mười ngón tay chai sạn của ông luồn sâu qua từng chùm rễ sen già mục rữa, chậm rãi lần tìm trong lớp bùn quánh đặc. Đất ở đây xốp và lạnh khác thường, tầng bùn dưới đáy như bị nén chặt bởi một lực vùi dập vội vã từ mấy mươi năm trước.
Bỗng nhiên, đầu ngón tay trỏ của Bá Cương chạm phải một vật cứng nằm chìm sâu chừng một gang tay dưới lớp phèn mục. Vật ấy lạnh toát, trơn láng và mang hình dáng cong tròn, hoàn toàn khác biệt với gốc rễ cây hay đá sỏi quanh vùng.
Nén một hơi thở dài, ông dùng hai ngón tay gạt nhẹ lớp bùn bao quanh, khéo léo bới từng mảng đất nhão để không làm sứt mẻ vật lạ. Khi nhấc vật lạ lên khỏi mặt nước phèn, trước mắt Bá Cương là một chiếc vòng bạc trũng xỉn màu vì năm tháng, phủ một lớp rêu phong xanh xám bám chặt.
Chiếc vòng khá nặng, được đúc dày dặn. Bá Cương dùng nước vang ngũ vị mang theo trong ống nứa dội nhẹ lên thân vòng để tẩy rửa bùn đất. Dưới ánh sáng ban mai nhợt nhạt xuyên qua màn sương muối, thân ngoài chiếc vòng dần lộ ra những đường chạm trổ tinh xảo: từng cánh hoa cúc dại uốn lượn mềm mại, mang phong cách chế tác đặc trưng của những đào nương hát ả đào nức tiếng thời trước Cách mạng.
Hình ảnh hoa cúc dại này giống hệt nút thắt thứ năm từng ứa máu trên nắp ván áo quan gỗ dâu rừng. Mối nghi ngờ trong lòng người thợ già bùng lên như lửa đốt.
Bá Cương lấy vạt áo nâu cẩn thận lau sạch lớp bùn đen cáu cặn bám chặt ở mặt trong lòng chiếc vòng. Dưới lớp rỉ bạc lâu năm, những nét chữ khắc chìm dần hiện lên rõ rệt trước mắt ông.
Đó là hai chữ “Thị Loan” được khắc nắn nót, thanh mảnh đầy nét nữ tính.
Thế nhưng, điều khiến Bá Cương đứng chôn chân dưới lòng bùn lạnh, tim đập thình thịch bàng hoàng chính là dấu ấn nằm ngay bên cạnh: một con triện vuông vức khắc chìm sắc lẹm, mang phù hiệu riêng của phủ Lý trưởng họ Nguyễn lừng lẫy làng Sen Cạn năm xưa.

Bình luận chương 0
Đăng nhập để tham gia bình luận.
Đang tải bình luận…