Khối Gạch Lòng Lò Quật Ngã Tiên Đan Tôn
Chương 14: Bàn Tay Thợ Lò
Lời dọa dẫm the thé của Tống Lăng Hoài vừa dứt, tám đệ tử nội môn Đan Các đã hò hét khiêng chiếc lò Ngọc Lưu Ly Cửu Long nạm vàng rực rỡ hạ xuống bệ đá bên phía tả đan đài. Thân lò tráng men xanh biếc óng ánh dưới ánh mặt trời, chín đầu rồng đúc bằng vàng ròng há miệng ngậm châu ngọc lấp lánh, toát ra vẻ quyền quý xa hoa tột bực. Xung quanh đan đài, hàng ngàn đệ tử Đan Các ồ lên trầm trồ, không ít kẻ quay sang ba cỗ xe kéo thô kệch của xưởng Hỏa Nê Lĩnh mà buông lời chế giễu:
“Nhìn đống đá xù xì kia xem, đen đúa thô lậu chẳng khác nào gạch lát chuồng ngựa!”
“Đem thứ bùn đất phàm trần ấy đặt cạnh bảo lò của Đan Các, đúng là trò cười lớn nhất trăm năm qua!”
Từng tràng cười cợt rộ lên như ong vỡ tổ. Thế nhưng, Phó Minh Triết tựa hồ chẳng nghe thấy nửa lời. Đôi mắt lão bình thản như mặt nước giếng cổ, không gợn một tia dao động. Lão bước tới bên cỗ xe gỗ nghiến, chậm rãi cởi bỏ vạt áo gai ngoài, để trần đôi cánh tay gầy gò chằng chịt những vết sẹo bỏng lớn nhỏ lồi lõm — dấu tích của tám mươi năm bầu bạn cùng than đỏ và đất sét.
Lão quay lại, khẽ gật đầu:
“Thiết Ngưu, dỡ gạch. Ninh Nha, mở vò bùn.”
“Dạ, Sư phụ!”
Hai thiếu niên đồng thanh đáp, trong mắt không còn chút sợ sệt nào trước uy áp của chốn cung đình tu tiên. Thiết Ngưu cùng Trịnh Đại và Lục Nhị bước tới mép xe, những cánh tay gân guốc thoăn thoắt nhấc từng khối sa thạch xỉ đồng xuống bệ đá trắng. Từng viên gạch vuông vức màu tím thẫm ánh sắc huyền thiết va chạm vào nhau, phát ra những tiếng “keng keng” đanh giòn, dứt khoát như tiếng đao kiếm chạm nhau. Ninh Nha nhanh nhẹn ôm hai vò gốm lớn đặt xuống bên chân lão, nắp vải thô vừa mở ra, mùi ngai ngái nồng đượm của bùn khoáng đỏ đáy vực hòa quyện với tro trấu liền lan tỏa khắp một góc đan đài.
Phó Minh Triết quỳ một gối xuống phiến đá hoa cương bằng phẳng ở trung tâm phía hữu đan đài. Lão không dùng thước dây, cũng chẳng cần đến la bàn định vị như các trận pháp sư. Bàn tay trần thô ráp, chai sần vỗ nhẹ xuống mặt đá ba cái, cảm nhận từng đợt rung động li ti của hỏa mạch ngầm đang cuộn trào sâu bên dưới lớp đá hoa cương.
Một khắc sau, ánh mắt lão ngưng lại tại một điểm.
“Chính là chỗ này. Khởi móng!”
Lão thọc thẳng hai bàn tay vào vò bùn khoáng đỏ, vốc ra một tảng bùn dẻo quánh, miết một vòng tròn rộng đúng sáu xích xuống mặt đan đài. Bùn đỏ bám chặt lấy đá trắng, đường nét tròn trịa chuẩn xác đến mức như được chuốt từ khuôn đúc định hình.
Ngay sau đó, bàn tay trăm tuổi vươn ra đón lấy viên sa thạch xỉ đồng đầu tiên do Thiết Ngưu chuyền tới. “Cạch!” Viên gạch cắm phập vào lớp bùn móng, thớ đá thô ráp cắn chặt lấy bùn khoáng. Không một động tác thừa, viên thứ hai, thứ ba, thứ tư nối tiếp nhau hạ xuống. Mỗi viên gạch đều được lão đặt theo thế so le mộng âm dương cài răng lược, giữa hai thớ gạch luôn chừa lại một khe rãnh nhỏ đúng ba phần thốn.
Đám đan sư đứng xem ban đầu còn cười cợt, nhưng chỉ sau vài chục viên gạch, những tiếng xì xào bỗng thưa dần.
Đôi bàn tay gầy guộc của lão già phàm nhân trăm tuổi thoăn thoắt lướt trên gạch đá uyển chuyển đến lạ kỳ. Động tác của lão dứt khoát, mộc mạc mà chuẩn xác đến từng phân từng tấc. Không hề có một tia linh lực dao động, không cần đến pháp quyết ngự vật hào nhoáng, nhưng từng khối đá nặng hàng chục cân rơi vào tay lão lại nhẹ tựa lông hồng. Bùn đỏ miết tới đâu, gạch sa thạch cắn chặt tới đó. Bụi đất bám vạt áo gai, mồ hôi lăn dài trên những nếp nhăn sâu hoắm nơi khóe mắt, nhưng sống lưng lão vẫn thẳng tắp như tùng bách giữa gió đông.
Ngay từ tầng móng sát mặt đá, ba khe hở đầu tiên đã được chừa sẵn. Đến tầng gạch thứ năm, Phó Minh Triết dừng tay một nhịp, quay sang Ninh Nha:
“Ninh Nha, mở then gió tầng hai.”
Cô bé thoăn thoắt dùng que nạo gỗ gạt phăng lớp bùn thừa ở ba góc đối xứng, để lộ ra ba khe hở hình cánh cung hướng chếch xuống mặt sàn. Lên đến tầng thứ chín, lại thêm ba khe hở nữa được khoét mở theo chiều ngược lại. Chín cửa gió đối lưu hỏa mạch — Cửu Khiếu Dẫn Phong — hình thành một cách tự nhiên giữa các thớ gạch thô ráp.

Bình luận chương 0
Đăng nhập để tham gia bình luận.
Đang tải bình luận…