Mặt Chiêng Đồng Chắn Vết Nứt Non Cao
Chương 16: Mẻ Đồng Đỏ Lửa
Dư âm của ba tiếng nổ dữ dội vẫn còn dội lại từ vách Hạc Ngực, làm rung bần bật những phiến ngói máng và khiến tro tàn trong lò đúc bay mù mịt. Dòng thác bùn đỏ sậm lẫn đá dăm ràn rạt trút xuống sườn dốc, tựa như một con trăn khổng lồ đang quẫy mình trườn thẳng về phía doi đất cao của xưởng rèn Từ Gia.
Cụ Từ Vĩnh Xuyên không hề biến sắc. Đôi chân trần gầy guộc của cụ bám chặt lấy mặt đất nện, đôi tai Thông Địa Nhĩ khẽ giật giật theo từng đợt rền rĩ ngầm truyền qua thớ đá sâu. Nhịp thở của non cao đang nghẹn ứ, vỡ vụn từng mảng. Tiếng nổ khô khốc, gấp gáp ban nãy không phải sụp đổ tự nhiên; đó là tiếng bột sấm sét nổ phá mặt ngoài để mở đường máu. Đỗ Bách Lương và Tiết Hồng Quan hẳn đang điên cuồng phá những vỉa đá cuối cùng bên vách ngoài hòng cướp đường chở sáu rương huyền sa ngọc tủy trốn chạy trước khi bản làng kịp trở tay.
“Cụ Cả! Nước bùn tràn xuống rồi!” Tiếng Trưởng bản Ma Luân vang lên sang sảng giữa màn mưa gió mù trời.
Từ mé rào, Ma Luân giật phăng chiếc áo chàm vắt lên vai, giơ cao chiếc cuốc chim sáng loáng:
“Bà con ơi! Giữ lấy lò đúc! Đàn ông khỏe mạnh theo tôi cuốc đất bạt đá, khơi thông rãnh dẫn về suối Ngân Xích! Cánh thanh niên vần đá tảng đắp lũy quanh chân rào! Tuyệt đối không để một giọt nước bẩn dính vào vạc đồng!”
Lời hô dõng dạc của vị Trưởng bản như chiếc mồi lửa thổi bùng khí thế của hơn ba trăm con người. Hàng chục trai làng không màng mưa lạnh, lập tức ùa ra mé dốc. Tiếng cuốc xẻng va vào đá chan chát, tiếng hò dô chuyển đá huyên náo cả một góc thung lũng. Từng tảng đá vôi lớn được khiêng đến, chèn chặt bằng cọc tre và đất sét, dựng thành một bức lũy kiên cố cao ngang ngực người. Dòng nước bùn hung hãn cuồn cuộn đổ tới, va sầm vào bờ lũy đá rồi ngoan ngoãn rẽ dòng theo con mương mới đào, tuôn xối xả xuống lòng suối Ngân Xích.
Chân móng lò đúc vẫn khô ráo, vững vàng như bàn thạch.
Trong lán, ngọn lửa từ than nghiến đã liếm đỏ rực đáy vạc. Ba trăm hai mươi cân đồng hun nguyên chất sôi sùng sục, sắc đỏ ánh hoàng hôn chuyển dần sang màu cam tươi chói lọi, không một chút gợn váng xỉ. Thời khắc chín muồi ngàn năm có một của mẻ đại chiêng đã điểm.
Cụ Từ Vĩnh Xuyên đứng thẳng lưng, chỉnh lại vạt áo ngắn đẫm mồ hôi. Ánh mắt cụ sáng quắc, đôi tay khẽ chắp trước ngực hướng về phía bàn thờ tổ nghiệp nơi góc xưởng, lẩm nhẩm khẩu quyết chân truyền:
“Đồng quy về thau, khí tụ về tâm. Trời cho gang thép, đất dưỡng đồng hun. Mười hai múi tiết khí, đón gió nắn dời non…”
Khấn xong, cụ bước lên bục đá, hai tay vững vàng đón lấy chiếc gáo sắt cán dài bọc vải gai ướt. Cụ cất giọng đĩnh đạc, trầm hùng át cả tiếng mưa gió:
“Bốn đứa nâng vạc, vào vị trí! Mẫn, cầm kẹp ghìm miệng máng! Cẩn trọng từng tấc đất, nâng đều tay!”
Bốn gã thợ phụ vạm vỡ nhất bản Hạc Lăng bước tới, mỗi người nắm chặt một đầu đòn khiêng bọc sắt. Gân cốt họ gồ lên dưới làn da ướt đẫm mồ hôi và tro bụi. Dưới sự điều phối từng nhịp thở của cụ Từ, chiếc vạc đồng khổng lồ từ từ nhấc bổng khỏi miệng lò âm đất. Sức nóng hầm hập tỏa ra rát bỏng mặt da, làm cong queo cả những mảnh lá tre rơi trên sàn.
Chiếc vạc nghiêng dần. Dòng kim loại nóng chảy đỏ rực như dung nham nguyên sơ tuôn tràn vào máng dẫn bằng đất nung, chảy cuồn cuộn về phía khuôn đại chiêng mười hai múi rộng sáu thước sáu tấc đang nằm đợi giữa lòng đất.

Bình luận chương 0
Đăng nhập để tham gia bình luận.
Đang tải bình luận…