Người Gác Hải Đăng Cuối Cùng
Chương 1: Bóng đá Hòn Gạc
Chiếc thuyền chài vỏ gỗ của chú Sáu Rạn chồm lên một ngọn sóng lừng rồi giáng mạnh xuống mặt nước xám ngắt. Bọt biển tung trắng xóa, tạt rát bỏng vào một bên gò má Thảo. Biển cuối thu năm 1998 mang sắc lạnh u uất, đậm đặc một màu chì đục ngầu phù sa và bọt muối. Gió thốc từng cơn giật cục từ phía đông nam, mang theo cái ẩm ướt nồng gắt của hơi nước mặn chát cùng dấu hiệu không thể nhầm lẫn của một vùng áp thấp nhiệt đới đang cuộn xoáy ngoài khơi xa biển Đông.
Ở mũi thuyền, đảo Hòn Gạc lừng lững hiện ra tựa một chiếc răng nanh khổng lồ bằng đá hoa cương xám xịt cắm thẳng lên nền trời vần vũ mây giông. Bốn bề là những vách đá phong hóa dựng đứng, trơ trọi và hiểm trở, tuyệt nhiên không có một bóng cây lớn nào đủ sức bén rễ; chỉ có những dải muống biển tím ngắt bám rịt vào các khe nứt cằn cỗi cùng từng vạt xương rồng dại cào xước xơ xác trong gió gắt. Ngự trị trên chỏm đá tảng cao nhất là tháp hải đăng hình trụ tròn xây bằng đá hộc kiên cố, bên ngoài trát lớp vữa vôi trắng dày dặn. Lớp vữa vôi ấy qua gần một thế kỷ dầm dãi nắng lửa và bão mặn đã tróc lở từng mảng lớn, để lộ cốt gạch cổ màu xỉ than sẫm tối được người Pháp đưa từ chính quốc sang xây dựng vào năm 1912.
“Tới nơi rồi đó, cô kỹ sư!” Chú Sáu Rạn gằn giọng át tiếng máy dầu nổ thình thịch đều đặn dưới lườn thuyền. Đôi bàn tay chai sần, gân guốc như rễ cây đước biển của người ngư dân già ghì chặt lấy cần lái bằng gỗ mun, đôi mắt kèm nhem nheo lại canh chừng từng đợt sóng bạc đầu đang chực dìm mạn thuyền vào chân ghềnh đá trơn tuột rêu xanh phía trước. “Canh con sóng êm mà nhảy phắt lên bậc xi măng nhen. Đừng có dại dột ngó xuống chân, nước dưới chân vách đá này xoáy ngầm cuộn siết dữ dội lắm đó!”
Thảo siết chặt quai chiếc ba lô bạt nặng trĩu những cờ lê, thước cặp mỏ nhọn, đồng hồ vạn năng và tập hồ sơ kỹ thuật dày cộm mang con dấu đỏ của Ty Bảo đảm Hàng hải. Cô đưa bàn tay thô ráp sạm màu dầu mỡ tém lại lọn tóc ngắn bị gió biển thổi bết chặt vào trán. Nước da rám nắng công trường cùng đôi gò má cao góc cạnh của cô ánh lên vẻ cương nghị dưới thứ ánh sáng nhờ nhờ, lạnh lẽo của buổi chiều tà muộn màng.
“Chú Sáu không neo thuyền lên đảo nghỉ một lát, uống bát nước chè sao?” Thảo hét to át tiếng sóng vỗ ầm oàng vào hàm ếch đá vôi.
“Nghỉ cái giống chi chừ!” Chú Sáu nhổ toẹt bãi nước bọt khét lẹt mùi thuốc lào xuống mạn thuyền, ánh mắt đảo quanh rạn đá phía mũi thuyền với vẻ bất an lộ rõ trong từng nếp nhăn nơi khóe mắt. “Gió bắt đầu xoay hướng chướng rồi. Tui phải tống ga chạy riết về lại cửa Sa Kỳ trước khi bọt sóng trùm kín luồng lạch. Ở lại cái chóp đá Hòn Gạc này đêm nay thì chỉ có nước rách vỏ thuyền, bỏ mạng cho hà róc xương.”
Chiếc thuyền chài lựa trớn ghé sát mép ghềnh. Một đợt sóng lừng dâng cao từ đáy biển, nâng bổng đuôi thuyền lên ngang tầm thềm đá nhỏ xíu được đẽo gọt thô sơ vào sườn núi. Thảo lấy đà, dứt khoát nhảy sang. Đôi ủng cao su chuyên dụng bám chặt vào bề mặt đá ẩm ướt lởm chởm vỏ hà sắc nhọn. Chú Sáu nhanh tay quẳng chiếc túi dù bọc kín lương khô và đồ nghề dự phòng của cô lên thềm đá, rồi dùng cây sào tre đực bịt sắt nhọn đẩy mạnh mũi thuyền ra xa khỏi vách đá nhọn hoắt đang chực chờ nghiền nát lớp vỏ gỗ mục.
Trước khi giật ga lùi máy để quay đầu ra khơi, người lái đò già đột nhiên khựng lại. Chú kéo sụp vành nón mê rách rưới xuống trán, ngước nhìn lên đỉnh tháp hải đăng sừng sững giữa trời xám xịt rồi hạ giọng, nét mặt nghiêm trọng lạ thường:
“Cô Thảo nè... Tính lão Tư Ngạn trọi lỉa, quái gở như hòn đá mồ côi ngoài lộng rứa đó. Ba chục năm nay ổng không bước chân về đất liền, người ngợm mốc thếch mùi dầu hỏa với muối mặn. Nếu ổng có nạt nộ hay lảm nhảm chuyện chi... thì cô cứ bơ đi, đừng cãi cọ làm chi cho mệt xác. Nhất là đêm nay...” Chú ngập ngừng, đưa ngón tay trỏ run rẩy chỉ về phía đông bắc, nơi những ngọn sóng bạc đầu đang cuộn trào trên một dải nước sẫm màu kỳ dị cách bờ chừng ba hải lý. “Đêm nay hăm chín, mai ba mươi trăng non rồi. Biển động cuối mùa mà lại rơi trúng vào đêm trăng non thì rạn Quỷ Môn độc địa lắm. Người sống sót sau cái vụ đắm tàu hai chục năm trước... không có ai bình thường trong đầu mô cô.”
“Cháu biết rồi. Cháu cảm ơn chú Sáu.” Thảo đáp gọn lỏn, giọng điềm tĩnh và dứt khoát.
Là một kỹ sư cơ khí hàng hải được đào tạo bài bản và từng lăn lộn qua hàng chục trạm hải đăng dọc dải duyên hải miền Trung, Thảo không lạ gì những lời đồn thổi nhuốm màu ma mị của cánh ngư dân vạn chài. Với cô, rạn Quỷ Môn chỉ đơn thuần là một cấu tạo địa chất hiểm trở hình lưỡi liềm chìm ngập dưới ba sải nước biển, nơi hai luồng hải lưu nóng lạnh giao cắt tạo ra các xoáy nước nghịch dòng cực kỳ nguy hiểm. Chẳng có ma quỷ hay lời nguyền rủa truyền đời nào ở đó, chỉ có những tính toán sai lầm về thủy văn và sự bất cẩn của những thuyền trưởng khi điều khiển tàu đi lệch luồng hàng hải mà thôi.
Thế nhưng, khi chiếc thuyền chài rẽ sóng quay đầu, nhanh chóng thu nhỏ thành một chấm đen dập dềnh giữa muôn trùng sóng dữ rồi khuất hẳn sau màn mưa bụi mịt mù, cảm giác cô lập bất chợt đè nặng lên lồng ngực cô.
Gió rít qua các khe nứt của vách đá tạo thành những âm thanh the thé rền rĩ như tiếng còi hơi trầm đục vọng lại từ biển sâu. Thảo xốc lại ba lô trên vai, bước theo con đường mòn lót đá xám dẫn ngoằn ngoèo lên chân tháp. Dọc đường đi, những cụm xương rồng cọ quẹt vào ống quần bạt phát ra tiếng sột soạt khô khốc, nhắc nhở cô về sự khắc nghiệt của hòn đảo này.
Tháp hải đăng cổ hiện ra sừng sững trước mặt. Chân tháp ốp bằng những khối đá hộc dày hơn một mét, nặng nề và vững chãi tựa một pháo đài đã trơ gan cùng tuế nguyệt qua hàng trăm cơn bão tố. Cánh cửa sắt dày nặng trịch phủ lớp sơn chống rỉ màu xám tro khép hờ, để lộ một khe hở tối om hun hút dẫn sâu vào lòng tháp.
“Bác Tư? Bác Tư Ngạn ơi!” Thảo cất tiếng gọi lớn.
Đáp lại tiếng gọi của cô chỉ có âm vang rỗng tuếch dội lại từ khoảng không hun hút bên trong lòng tháp và tiếng gầm trầm đục của sóng biển dội qua vòm đá dưới đáy móng. Tuyệt nhiên không có tiếng dép lê quen thuộc, tiếng ho khạc hay bất kỳ lời đáp nào của con người.
Thảo đặt tay đẩy mạnh cánh cửa sắt nặng trịch. Bản lề han rỉ lâu ngày kêu lên một tiếng ken két chói gắt. Không khí bên trong lập tức thay đổi hoàn toàn: mùi gió biển ẩm ướt nhường chỗ cho mùi đặc trưng của một công trình kỹ thuật cơ khí thế kỷ trước – mùi ẩm mốc của vôi vữa lâu năm, mùi dầu mỡ bôi trơn máy móc đã biến tính qua thời gian, và đặc biệt là mùi dầu hỏa pha cồn khét nồng, thứ nhiên liệu đốt bấc thắp sáng ngọn đèn cổ suốt bao thập kỷ qua.
Chính giữa lòng tháp tròn là cầu thang xoắn ốc bằng gang đúc gồm đúng 120 bậc, chạy ngoằn ngoèo lên tận đỉnh vòm tựa như khung xương sống của một con cá voi thời tiền sử đã hóa thạch. Thảo bám tay vào lan can gang lạnh buốt sờn tróc lớp sơn đen, từng bước trèo lên. Mỗi bước chân giẫm lên bậc kim loại đều tạo ra những tiếng keng... keng... vang vọng đều đặn, đếm từng nhịp gõ khô khốc giữa không gian kín bưng tĩnh mịch.
Lên đến chiếu nghỉ tầng bốn, nơi đặt buồng sinh hoạt và trạm trực bão của người gác đèn, Thảo dừng lại thở dốc, lồng ngực phập phồng vì gắng sức.
Căn phòng hình tròn nhỏ hẹp, trần vòm thấp bằng đá xám. Một chiếc giường đơn kê sát vách với chiếc chăn bông lính thủy sờn rách được gấp vuông vức chằn chặn theo kiểu nhà binh. Trên chiếc bàn gỗ mộc thô sơ đặt giữa phòng, một mâm cơm đậy lồng bàn tre đã nguội ngắt từ lâu: lưng bát cơm trắng khô khốc se lại, đĩa cá cơm kho tiêu quánh lại thành một mảng đen sẫm và một chén nước mắm dầm ớt hiểm đỏ lòm. Cạnh mâm cơm, một cây đèn bão bằng đồng thau vẫn đang leo lét cháy, bấc đèn đã tàn lụi một nửa, muội than đen kịt bám đầy mặt trong của chụp thủy tinh hình quả lê. Chiếc đèn dầu này hẳn đã cháy liên tục ít nhất ba đến bốn tiếng đồng hồ mà không có người châm thêm hay vặn nhỏ bấc.
“Bác Tư?” Thảo bước hẳn vào phòng, đưa mắt rà soát từng ngóc ngách.
Mọi vật dụng cá nhân của người gác đèn già vẫn còn nguyên vẹn tại chỗ. Chiếc áo khoác dạ lính thủy bạc màu sương gió treo trên chiếc đinh sắt đóng vào mạch vữa. Cuộn dây thừng đay, chiếc điếu bát bằng sành, bao diêm dở dang nằm ngay ngắn trên kệ sách cũ kỹ.
Thảo tiến lại gần chiếc bàn làm việc bằng gỗ lim kê sát cửa sổ tròn nhìn ra biển. Trên mặt bàn bám đầy bụi muối và muội than, một cuốn sổ nhật ký hải trình dày cộm bọc bìa vải dầu xám nằm mở rộng. Cô bước tới, cẩn trọng nghiêng đầu xem xét. Những trang giấy ngả vàng vì ẩm ướt được kẻ cột ngay ngắn bằng mực tím, ghi chép cẩn mật các thông số khí tượng từng ca trực: hướng gió, áp suất khí quyển đo bằng phong vũ biểu thủy ngân, lượng dầu hỏa tiêu thụ tính bằng lít, và thời điểm cắt bấc đèn mỗi buổi rạng đông.
Thế nhưng, điều khiến ánh mắt Thảo khựng lại là những dòng ghi chú vội vã bằng bút chì ở lề dưới của các trang ghi ngày ba mươi âm lịch hàng tháng. Nét chữ run rẩy, xước giấy: “Góc quét 45 độ Đông Bắc... Tốc độ gió 6 hải lý... Sương muối dâng ngang mép rạn... Vẫn nghe tiếng gõ buồng máy dưới đáy nước.” Cạnh cuốn sổ là những dụng cụ đo đạc bằng đồng thau được sắp đặt ngay ngắn đến kỳ lạ: chiếc com-pa đo góc hàng hải, quả dọi chì bóng loáng và một hộp mỡ bò bôi trơn máy móc đã cạn một nửa.
Tuyệt nhiên không thấy bóng dáng ông Tư Ngạn đâu. Nếu ông đi tuần tra quanh chân tháp hay kiểm tra các ghềnh đá trước khi bão đổ bộ, ông không thể nào không nhìn thấy chiếc thuyền chài của chú Sáu cập bến, càng không thể để mặc ngọn đèn bão cháy hao dầu vô ích và bỏ dở bữa cơm chiều như thế này.
Thảo nhíu mày, trực giác nghề nghiệp của một người thợ máy mách bảo cô rằng trật tự vận hành tại trạm đèn này đang có sự xáo trộn bất thường. Cô không chần chừ, quay người bước tiếp lên những bậc thang gang cuối cùng dẫn thẳng lên buồng đèn – trái tim và linh hồn của toàn bộ ngọn hải đăng Hòn Gạc.
Đẩy cánh cửa sập bằng đồng nặng nề bước lên sàn buồng đèn, Thảo hoàn toàn nín thở.
Cả một thế giới cơ khí quang học cổ điển tráng lệ và kiêu hãnh mở ra trước mắt cô dưới ánh hoàng hôn le lói xuyên qua những ô kính cường lực dày hai mươi milimét đọng vệt muối mờ. Chiếm trọn không gian trung tâm là cụm thấu kính Fresnel khổng lồ cao hơn hai mét, một kiệt tác quang học do các kỹ sư bậc thầy người Pháp chế tác tinh xảo từ đầu thế kỷ hai mươi. Hàng trăm vành đai lăng kính thủy tinh quang học bậc thang đồng tâm lấp lánh như một khối đa diện tinh xảo, ôm trọn lấy buồng đốt bấc dầu ở chính tâm. Toàn bộ khối thấu kính nặng hàng tấn ấy được đặt nổi cân bằng hoàn hảo trên một máng gang hình xuyến chứa đầy thủy ngân lỏng sáng loáng, triệt tiêu gần như toàn bộ ma sát để có thể xoay tròn mượt mà chỉ với một lực đẩy nhẹ của ngón tay.
Thảo bước chậm rãi quanh bệ đèn, đưa những ngón tay chai sạn lướt nhẹ trên gờ mép gang của máng tròn. Lớp thủy ngân kim loại nặng trịch, phẳng lặng tuyệt đối như một tấm gương bạc soi bóng trần vòm tháp. Chỉ cần một mô-men xoắn cực nhỏ từ hệ thống tạ xích cơ học bên dưới, khối lăng kính khổng lồ này có thể lướt đi êm ả, không phát ra một tiếng cọ xát cơ học nào.

Bình luận chương 0
Đăng nhập để tham gia bình luận.
Đang tải bình luận…