Người Gác Hải Đăng Cuối Cùng
Chương 6: Bình minh trên Hòn Gạc
Gió bão đã lặng hẳn. Khoảng không gian bên ngoài những tấm kính vỡ của buồng đèn chỉ còn lại tiếng rù rì của sóng triều đang rút dần khỏi các hốc đá ngầm. Mùi dầu hỏa pha cồn khét nồng sau mẻ đốt cuối cùng quyện vào hơi sương lạnh ngắt của rạng đông, đọng thành những giọt nước li ti trên khung đồng hoen rỉ.
Thảo quỳ gối trên sàn đá hoa cương lạnh buốt. Bàn tay cô, chằng chịt những vết cào rướm máu vì mảnh kính vỡ và rỉ sắt, run rẩy chạm vào bờ vai gầy guộc của người gác đèn già.
Da thịt ông Tư đã lạnh. Cơn sốt rét rừng cùng sự vắt kiệt tàn lực để giật tung quả tạ xích trong đêm bão đã lấy đi những hơi thở cuối cùng của lão cựu thủy thủ. Nhưng trên gương mặt xám ngoét chằng chịt những nếp nhăn sâu hoắm như vết nứt trên vách đá granite, nụ cười thanh thản vẫn còn nguyên vẹn. Khóe mắt mờ đục khép hờ, hướng thẳng ra vùng biển rạn Quỷ Môn – nơi mà suốt hai mươi năm ròng, lão đã tự đày ải linh hồn mình trong nỗi sám hối khôn nguôi.
Thảo hít một hơi thật sâu, nén lại cơn nghẹn ngào đang trào dâng nơi cuống họng. Cô vươn tay, nhẹ nhàng vuốt phẳng đôi mi mắt của ông Tư Ngạn.
"Bác Tư... ba cháu đã về bến rồi. Bác cũng nghỉ ngơi được rồi."
Cô cởi chiếc áo khoác bảo hộ lao động dày cộm của mình, cẩn trọng đắp lên thân hình còng gập, khẳng khiu như một khúc rễ đước khô. Bên dưới lớp áo, chiếc cờ lê số 14 bằng đồng vẫn nằm nguyên bên cạnh bàn tay buông lỏng của lão. Tháp đèn cổ kính giờ đây chìm trong một sự tĩnh lặng thiêng liêng chưa từng có. Cụm thấu kính Fresnel khổng lồ nặng gần ba tấn đã ngừng quay, các vành đai lăng kính bậc thang thủy tinh trong suốt như pha lê đứng sững giữa đệm thủy ngân, lặng lẽ đón nhận những tia sáng đầu tiên của ngày mới đang le lói phía chân trời.
Ở phía Đông, đường chân trời rách toạc một vệt màu đỏ tía, rồi nhanh chóng loang ra thành sắc vàng cam rực rỡ. Ánh bình minh xuyên qua lớp sương mù mỏng manh sau bão, rọi thẳng vào buồng đèn, khúc xạ qua hàng ngàn góc cạnh của thấu kính Pháp cổ, biến căn phòng trên đỉnh tháp thành một vương quốc ánh sáng lung linh rực rỡ. Rạn Quỷ Môn ngoài khơi xa hiện lên phẳng lặng, làn nước xanh ngắt màu ngọc bích êm ả vỗ quanh những chỏm san hô ngầm, rũ bỏ hoàn toàn vẻ hung hãn, quỷ quyệt của một bãi tha ma biển cả.
Từ dưới chân tháp, tiếng nổ bình bịch giòn giã của động cơ diesel phá vỡ sự tĩnh mịch của hòn đảo.
Thảo bước ra lan can ngoài, gió sớm thổi tung những lọn tóc bết dính mồ hôi và muối biển. Dưới âu thuyền tự nhiên ngổn ngang đá tảng, một chiếc tàu sắt sơn trắng mang dòng chữ Bảo đảm Hàng hải miền Trung đang rẽ sóng tiến vào, cặp mạn cùng một chiếc thuyền gỗ quen thuộc.
Trên mũi chiếc thuyền gỗ ấy, một bóng người vạm vỡ mặc áo bà ba sờn rách đang đứng chồm hỗm, tay vẫy chiếc mũ tai bèo liên hồi.
"Con Thảo! Con Thảo ơi! Mi còn sống không con ơi!"
Tiếng hét khàn đặc mang đậm phương ngữ Quảng Ngãi của chú Sáu Rạn dội vào vách đá, át cả tiếng sóng lách chách. Thảo vịn chặt lan can sắt rỉ sét, một nụ cười nhẹ nhõm nở ra trên đôi môi nứt nẻ. Chú Sáu vẫn sống. Đêm qua, khi sóng đánh trôi thuyền, kinh nghiệm mấy chục năm luồn lách qua các lạch đá ngầm cùng sự che chở của luồng sáng rực rỡ mà Thảo và ông Tư quét ra giữa tâm bão đã giúp chú dạt vào bãi cát phía sau hòn đảo, sống sót kỳ diệu qua cơn cuồng nộ của biển.
Mười lăm phút sau, tiếng bước chân huỳnh huỵch dồn dập vang lên từ cầu thang gang xoắn ốc một trăm hai mươi bậc. Cửa buồng đèn bật mở, chú Sáu Rạn thở dốc lao vào, phía sau là tổ công tác bốn người của Ty Bảo đảm Hàng hải trong bộ đồng phục màu xanh biển, mang theo thùng đồ nghề và các kiện hàng đóng khung gỗ cẩn mật.
Nhìn thấy Thảo đứng tựa vào bệ máy với hai bàn tay rớm máu và vạt áo rách bươm, chú Sáu khựng lại. Rồi ánh mắt chú rơi xuống thi thể ông Tư Ngạn đang nằm yên bình dưới lớp áo khoác kỹ sư.
"Trời đất quỷ thần ơi... Lão Tư..." Chú Sáu bước sụp xuống sàn đá, đôi tay chai sần run rẩy chạm vào vạt áo người đã khuất. Đôi mắt đỏ hoe vì khói thuốc lào và thức trắng đêm bão bỗng ứa nước mắt. "Lão đi thiệt rồi sao? Đêm qua... đêm qua luồng sáng từ tháp đèn rọi thẳng ra Quỷ Môn... tui ở dưới bãi đá nhìn thấy hết trơn. Lão Tư ơi, mi trả xong nợ cho anh Khiêm rồi đó hả lão?"
Người đội trưởng đội kỹ sư của Ty bước tới, nghiêm trang tháo mũ bảo hộ, nghiêng mình cúi đầu trước thi thể người gác đèn cuối cùng của Hòn Gạc. Không ai hỏi Thảo điều gì về đêm kinh hoàng vừa qua. Những vết máu khô trên cần tạ cơ học, mùi cồn chưng cất còn phảng phất và tư thế của ông Tư đã thay cho vạn lời giải thích.
"Kỹ sư Thảo," người đội trưởng khẽ lên tiếng, giọng trầm ấm đầy kính trọng. "Chúng tôi nhận được tín hiệu đèn xoay lúc rạng sáng nên lập tức điều tàu cứu hộ ra ngay. Chị đã kiên cường lắm. Bây giờ, tàu của Ty sẽ đưa bác Tư về đất liền mai táng theo nghi thức danh dự của ngành hàng hải. Còn việc chuyển giao thiết bị..."
"Việc chuyển giao sẽ tiến hành ngay bây giờ," Thảo cắt lời, giọng cô dứt khoát và bình thản, lấy lại trọn vẹn bản lĩnh của một kỹ sư công trình. "Chúng ta không thể để luồng hàng hải qua Hòn Gạc bị gián đoạn thêm một giờ nào nữa."
Dưới sự chỉ huy của Thảo, công việc lắp đặt ngọn đèn mới diễn ra khẩn trương ngay trong buổi sáng. Đội công nhân chuyển các tấm pin năng lượng mặt trời quang điện đơn tinh thể và hệ thống ắc quy khô lên đỉnh tháp.

Bình luận chương 0
Đăng nhập để tham gia bình luận.
Đang tải bình luận…