Nhịp Gõ Thanh Ray Nơi Cửa Hầm Ma
Chương 11: Lời Hẹn Xóm Lạc Sơn
Tiếng chuông đồng hồ từ ga Lạc Sơn vừa dứt hẳn, để lại khoảng không u tịch rợn ngợp giữa lòng đèo Heo Hút. Hơi lạnh thấu xương luồn qua kẽ liếp nứa khiến tàn lửa ủ trấu trong bếp than hồng chao đảo, phả ra làn khói mỏng cay nồng.
Tiệp ngồi lặng trên chiếc ghế đẩu mục, mắt đăm đăm nhìn vào những đốm than đang lụi dần. Bên cạnh, Đính ngồi co ro, đôi bàn tay gầy đan chặt trên đầu gối, chốc chốc lại khẽ chạm vào chuôi gỗ chiếc búa chim giắt bên hông. Ánh nhìn của cậu học trò rực lên vẻ kiên định, dù quầng mắt thâm quầng sau đêm dài thức trắng dưới lòng đất.
— Từ đây xuống ga chừng ba cây số đường đèo — Tiệp cất giọng trầm đục, phá tan sự im ắng. — Thằng De La Tour cậy có súng đạn nên lính tráng chỉ tập trung quanh khu nhà vòm dưới chân núi. Giờ này sương mù đang dày nhất, tao phải xuống xóm thợ Lạc Sơn ngay trước khi trời sáng rõ mặt người.
Đính ngẩng phắt lên, giọng lo lắng:
— Chú để cháu đi cùng! Đêm hôm hiểm trở, chân chú lại đau...
— Mày phải ở lại đây — Tiệp dứt khoát xua tay. — Chòi gác số 14 là mắt xích giữ cửa hầm. Thấy bóng người lạ lai vãng hay có biến cố bất thường từ ngách số 3, mày phải biết cách gõ ám hiệu báo động. Với lại, nếu cả hai cùng vắng mặt, bọn lính tuần dưới dốc nghi ngờ mò lên kiểm tra thì hỏng hết việc lớn.
Hiểu rõ lời dặn của người thợ già, Đính cắn môi gật đầu. Tiệp đứng dậy, với lấy gáo nước mưa từ vại sành, dội một gáo dứt khoát dập tắt bếp than để không lộ khói. Căn phòng lập tức chìm vào bóng tối nhờ nhờ của buổi sớm mùa đông.
Kéo vạt áo tơi xơ dừa che kín ngực nơi cất giữ mẩu thép gãy mười năm trước, Tiệp bước ra bậu cửa dặn nhỏ:
— Cài chặt then trong. Ai gọi cũng không được mở, trừ khi nghe đúng ba tiếng gõ ngắn, một tiếng dài.
Cánh cửa gỗ nghiến khép lại sau lưng. Gió rừng thốc buốt mang tai. Tiệp khập khiễng men theo rãnh thoát nước dọc bờ ta-luy vách núi. Thay vì đi theo đường ray chính dễ bị lộ, ông luồn sâu vào bụi rậm gai góc men theo sườn đèo.
Sương trắng giăng kín thung sâu, che khuất những mái tôn của ga Lạc Sơn phía dưới. Nơi ấy, vài ngọn đèn măng-sông vẫn đỏ quạch một góc trời. Tiệp lách mình qua đồi ngô khô xác, bước qua chiếc cầu gỗ mục bắc ngang con suối cạn rồi rẽ vào xóm thợ Lạc Sơn.
Xóm thợ nghèo xơ xác nép dưới chân núi, chỉ gồm vài chục nóc nhà vách đất lợp tranh thưng nứa xiêu vẹo của những phu phen sót lại sau ngày mở tuyến. Tiệp dừng chân trước căn lều rách nát nằm khuất nẻo dưới rặng tre gai ở cuối xóm — nơi ở của ông Cửu Thao, người thợ mộc hầm lão luyện từng vào sinh ra tử với ông năm xưa.
Tiệp đưa tay gõ lên cánh liếp: ba nhịp cộc cộc vang lên rời rạc, rồi ngừng lại một thoáng trước khi gõ thêm một tiếng nặng trịch.
Cánh liếp hé mở một khe hẹp. Một khuôn mặt già nua với vết sẹo sâu hoắm chạy dài từ thái dương xuống má trái xuất hiện, tay lăm lăm chiếc đục sắt sắc lẹm. Nhận ra người quen, Cửu Thao buông chiếc đục, kéo Tiệp vào trong rồi gài then tre lại:
— Chú Tiệp đấy à? Trời chưa sáng tỏ, chú mò xuống đây làm gì? Tôi nghe phong phanh thằng quan thanh tra Pháp vừa tước thẻ thợ của chú hôm qua cơ mà?
— Chuyện sống chết của hàng trăm con người, anh Thao ạ. — Tiệp ngồi xuống mép chõng tre, thở dốc sau chặng đường dốc gập ghềnh.
Cửu Thao châm ngọn đèn hạt đỗ, rót một bát nước chè chát ấm sực đưa cho Tiệp. Hơi nóng xua bớt cái giá buốt ngấm tận xương tủy. Uống liền một hơi hết nửa bát nước, Tiệp thò tay vào túi ngực, rút mẩu thép hoen gỉ đặt lên mặt chõng tre. Dưới ánh dầu leo lét, cạnh thép gãy nham nhở để lộ chất thép mỏng dính pha tạp.
Cửu Thao sững sờ, ngón tay run rẩy sờ vào mẩu kim loại:

Bình luận chương 0
Đăng nhập để tham gia bình luận.
Đang tải bình luận…