Ánh Lân Tinh Soi Dấu Bờ Muối Trắng

Chương 14: Bức huyết thư gửi ngự sử

Tiếng vó ngựa rầm rập của toán thiết kỵ xé toạc màn đêm mặn chát ngoài bãi cát. Qua khe liếp lá cọ, Trịnh Đình Duệ thấy bóng ngựa ô cao lớn của Tuần phủ Quách Doãn Mậu hiện ra dưới ánh đuốc bập bùng, áo gấm thêu sóng bạc lấp loáng sau tấm áo tơi lông ngỗng. Hơn ba mươi tên kỵ binh giáp sắt tuốt gươm sáng loáng, vó ngựa giẫm nát những luống cát phơi muối mịn màng.

Thế nhưng, bức tường người của hơn một trăm diêm dân làng Lân Hải vẫn đứng sừng sững như rạn đá ngầm. Bà Bảy Muối giơ cao chiếc đòn gánh tre đực, đầu tóc bạc phơ bay ngược trong gió giông. Những người thợ phơi cát vai trần đen bóng, tay lăm lăm xẻng gỗ và cào chạt, quây chặt thành ba vòng ken dày quanh chòi canh. Đôi mắt họ rực lửa căm hờn, không một ai chớp mắt trước mũi giáo tuốt trần.

Quách Doãn Mậu ghìm cương ngựa, đôi mắt ti hí đảo quanh đám đông cuồn cuộn phẫn nộ. Y toan vung roi thét lệnh chém giết, nhưng khi nhìn thấy tấm liếp cửa chòi canh – nơi cụ Mục Trọng Liêm đang giữ đạo sắc phong tiên đế ban hàm Đề Lĩnh trọn đời – cùng khí thế sẵn sàng liều chết của cả xóm chài, y bất giác chùn tay. Ép dân làm loạn lúc này, nếu tiếng dữ vang đến kinh đô trước khi tro tàn kho muối nguội đi, chiếc ghế Thượng thư bộ Hộ mà y thèm khát sẽ tan thành mây khói.

— Khá cho lũ tiện dân! — Quách Doãn Mậu nghiến răng ken két, giọng the thé gằn xuống. — Bản quan tạm phong tỏa bãi cát ba ngày ba đêm! Cho quân cắm cọc sắt, giăng lưới vây kín từ mép sóng đến chân núi! Một con ruồi cũng không được bay khỏi cửa Thần Phù! Xem lũ gàn dở chúng mày cầm cự được mấy bữa!

Đoàn thiết kỵ quay đầu, nhưng hàng chục trại lính dã chiến lập tức được dựng lên bao vây bốn phía rặng phi lao. Tiếng búa đóng cọc sắt chan chát nện vào lòng đất, báo hiệu một vòng kiềm tỏa nghẹt thở.

* * *

Trong gian chòi canh chật hẹp, ngọn đèn dầu lạc leo lét tỏa quầng sáng vàng vọt. Hơi muối mặn quyện lẫn mùi rong biển lạnh tanh nồng phả ra từ chiếc chõng tre, nơi cụ Mục Trọng Liêm đang nằm sấp mê man. Toàn bộ vùng lưng của cụ phồng rộp rách toác, những vết bỏng sâu do xà lim đè trúng vẫn rỉ máu đỏ tươi, được bà Bảy Muối cùng hai người đàn bà xóm chài cẩn trọng đắp từng lớp rong bàng biển non giã nhỏ để hút nhiệt độc.

Duệ nén cơn đau rát từ lằn roi cũ nơi lưng mình, ngồi xếp bằng bên chiếc bàn gỗ tạp. Trước mặt chàng, ba chiếc hũ sành da lươn đựng mẫu muối ngự nguyên vẹn triện son và vò nước chạt tươi lân tinh vẫn đang nhấp nháy ánh xanh biếc huyền ảo.

Chàng vuốt phẳng tờ giấy dó thô dày dặn, nhúng ngọn bút lông vào nghiên mực thẫm. Giông bão ngoài biển khơi gầm rít liên hồi, nhưng tâm trí chàng phẳng lặng như mặt nước giếng chạt trước giờ kéo gàu. Ba ngày ba đêm ròng rã, ngọn đèn dầu lạc không bao giờ tắt. Duệ thức trắng, dốc cạn tâm can chấp bút bản báo biểu trần tình gửi Khâm sai đại thần Tiêu Hoài Cẩn.

Chàng không dùng những lời than vãn bi lụy, mà nắn nót từng dòng chữ mực son sắc sảo, hệ thống hóa toàn bộ các cuộc nghiệm chứng thực tế mà chàng và cụ Mục đã dày công thực hiện.

Mở đầu là phép thử quả trứng gà phơi sương trên vại nước cốt chạt Thần Phù. Duệ ghi rõ từng độ nổi của quả trứng: nước cốt chuẩn của thợ muối làng Lân Hải luôn làm trứng gà tươi phơi sương nổi nhô đầu đúng bằng miệng đồng tiền kẽm, biểu thị độ già đặc quánh của nước biển chắt lọc qua cát mịn. Thế nhưng, khi hòa mẫu muối lấy từ kho Giáp vào dòng nước cốt ấy, nước chạt lập tức ngưng đọng, đáy vại không tan mà kết lại một lớp cặn dày xám xịt.

Tiếp đến là phép thử trên chảo gang nung đỏ lửa. Từng dòng chữ của Duệ đanh thép vạch rõ: hạt muối biển tự nhiên kết tinh từ mồ hôi diêm dân khi gặp lửa hồng sẽ ngậm nhiệt nổ lách tách giòn giã, rồi chảy tan êm ả không bốc khói độc. Trái lại, chất bột lấy từ các bao tải kho Giáp khi trút lên mặt gang đỏ rực thì trơ lì câm bặt, hoàn toàn không phát ra tiếng nổ, chỉ bốc mùi tanh nồng của đá núi rồi biến thành lớp vôi chết khô khốc, bở vụn trên đầu ngón tay. Đó chính là chứng tích của bột đá thạch cao tán mịn, thứ tạp chất làm nghẽn ruột trướng bụng cung nhân kinh thành.

Duệ cẩn thận cắt một mảnh lụa điều nhỏ, gói nhúm bột đá thô chàng lén thu thập từ cối xay nước bến Thạch Cốc, đính chặt vào góc bản báo biểu bằng sáp ong rừng. Bên cạnh đó, chàng mở cuốn sổ tay da cá nhám, đặt đối chiếu từng trang cạo sửa tinh vi của kho Giáp với bức di thư úa vàng hai mươi năm trước của cha mình.

Dưới ánh đèn dầu lay lắt, những vết cạo mỏng thớ giấy dó của hai mươi năm trước do Đề bạt Quách Doãn Mậu ký duyệt và vết cạo ba ngàn hộc muối ngự hiện tại hiện lên rõ mồn một. Cùng một thủ đoạn đè mực son, cùng một dã tâm bòn rút xương máu quốc khố rồi đổ vấy cho kẻ dưới. Nước mắt Duệ bất giác trào ra, nóng hổi nhỏ xuống thớ giấy dó, nhưng ngòi bút chàng không hề run rẩy. Từng nét chữ như những mũi dùi thép cắm thẳng vào tim lũ quan tham.

Sang đến canh tư đêm thứ ba, ngọn đèn dầu lạc cạn dần, chỉ còn bấc đỏ le lói. Bản báo biểu dày mười hai trang giấy dó đã hoàn tất, mực tàu khô đen nhánh, rành mạch từng phép thử, từng con số đối chứng đanh thép.

Đăng nhập để thả tim Đăng nhập để tương tác

Ủng hộ tác giả Lý Trinh Tam
Mỗi lời động viên là động lực để tác giả tiếp tục sáng tác.

Lý Trinh Tam

Tác giả của câu chuyện này · Hãy cùng ủng hộ những chương tiếp theo.

Đăng nhập để theo dõi

Bình luận chương 0

Đăng nhập để tham gia bình luận.

Đang tải bình luận…