Bản Sonate Dưới Đáy Vực Sương
Chương 14: Tiếng Vọng Dưới Lòng Vực
Mùi nhựa thông cháy xém quyện với khói củi mục bốc lên từ chiếc bếp trấu giữa căn nhà sàn của bà Ma Thị Mỷ xộc thẳng vào cánh mũi buốt buốt của Chu Lan Vy. Gió luồn qua những khe ván gỗ pơ mu hở hoác, gầm rít như bầy thú hoang đói khát trên triền dốc Séo Mý Tỷ. Bên ngoài, nhiệt độ đã tụt xuống âm hai độ C; băng giá bám trắng xóa trên những mắt tre đực, biến không gian xung quanh thành một cỗ quan tài đông lạnh khổng lồ.
Cổ tay trái của Vy nhói lên từng cơn bỏng rát. Vết bỏng nhiệt độ hai sau trận hỏa hoạn ở xưởng mộc Cát Cát đã được Nam sơ cứu bằng thuốc mỡ kháng sinh và băng gạc tiệt trùng, nhưng lớp da non phồng rộp vẫn giần giật theo từng nhịp đập của mạch máu. Cô phớt lờ cơn đau, hai ngón tay lành lặn thoăn thoắt gõ trên bàn phím chiếc máy tính xách tay dã chiến bọc thép. Màn hình chống lóa hắt ánh sáng xanh lam lạnh lẽo lên gương mặt hốc hác, lem luốc vết muội than nhưng đôi mắt cô sáng quắc một thứ ý chí sắt đá.
Vy rút chiếc giắc cắm bọc vàng từ máy ghi âm chuyên dụng Roland R-07, kết nối trực tiếp vào cổng âm thanh ngoại vi của máy tính. Trong bộ nhớ máy ghi âm là tệp âm thanh số hóa duy nhất mà mẹ cô—một cựu thanh tra nội chính từng bí mật điều tra các đường dây bảo trợ nghệ thuật biến chất—để lại trước khi qua đời trong một vụ tai nạn giao thông đầy uẩn khúc mười năm về trước.
“Em đang làm gì thế?” Đặng Minh Tuấn bước lại gần, đặt xuống cạnh bàn gỗ một bát nước gừng nóng bốc hơi nghi ngút. Cựu đại úy cảnh sát đã cởi bỏ chiếc áo khoác rách bươm, để lộ bờ vai vạm vỡ nhưng chằng chịt vết bầm tím sau màn cận chiến sinh tử với sát thủ mặt nạ trên đèo Ô Quy Hồ.
“Đoạn băng của mẹ tôi,” Vy không ngẩng đầu lên, giọng cô khàn đặc vì khói độc nhưng dứt khoát. “Mười năm trước, trước khi bị xe tải đè bẹp trên đèo Thung Khe, mẹ tôi đã gửi cho tôi một đoạn ghi âm cảnh báo về một ‘người bảo trợ mang mặt nạ quỷ dữ’. Suốt mười năm, tôi chỉ nghe thấy lời cảnh báo ngắt quãng của bà giữa những tiếng rè tạp âm. Nhưng vừa rồi, khi anh Nam dịch dòng chữ tiếng Pháp trên bản đồ trắc địa của bà Mỷ... cụm từ ‘Buồng Cộng Âm Ngầm’ đã kích hoạt một điểm mù trong trí nhớ của tôi.”
Phan Nhật Nam đang ngồi xổm bên cạnh tấm bản đồ vải lanh năm 1930 trải trên sàn nứa, ngón tay thon dài trong chiếc găng len hở ngón khẽ khựng lại. Anh ngước mắt nhìn Vy. Quầng thâm quanh mắt anh trũng sâu sau ba đêm trắng liên tiếp, nhưng đồng tử màu hổ phách vẫn sắc lẻm như lưỡi dao mổ giải phẫu.
“Tạp âm nền?” Nam hỏi ngắn gọn, lập tức nắm bắt được mạch tư duy của cô.
“Chính xác,” Vy hít một hơi sâu, ngón trỏ nhấn phím cách để chạy phần mềm phân tích âm phổ chuyên dụng. “Nếu một người ghi âm trong không gian hẹp thông thường, tần số dội âm sẽ bị triệt tiêu rất nhanh bởi đồ đạc hoặc tường gạch. Nhưng nếu ghi âm trong một khoang đá tự nhiên có cấu trúc vòm parabol, âm thanh sẽ phản xạ vô tận với một hệ số tắt dần cực kỳ đặc thù. Tôi đang cô lập tiếng nói của mẹ tôi, trích xuất dải tần số hạ âm và thời gian dội âm RT60 của môi trường xung quanh bà lúc bấm máy.”
Những cột sóng âm màu xanh lục bắt đầu nhảy múa trên màn hình. Vy kéo thanh trượt khử nhiễu băng thông rộng, lọc sạch tiếng gió rít và tiếng rè tĩnh điện của băng từ cổ.
Một âm thanh kỳ dị bắt đầu lọt ra từ loa ngoài máy tính.
Không phải tiếng người. Đó là một chuỗi tiếng rền rĩ trầm đục, ngân dài thăm thẳm như tiếng thở của một loài thủy quái bị giam cầm dưới lòng đất sâu. Tiếp theo đó là giọng nói đứt quãng, nghẹn ngào nhưng đanh thép của mẹ Vy:
“...Lan Vy... hãy nhớ... hắn không phải là thiên thần bảo trợ... Hắn là kẻ đoạt hồn... Bản Sonate không được phép hoàn thành... Hắn đang ở dưới chân thác... nơi nước gầm biến thành nốt nhạc...”
Giọng nói dứt hẳn. Thay vào đó là một hồi chuông dội âm kéo dài đúng 1,82 giây ở dải tần 440 Hz—tần số chuẩn của nốt La cơ bản.
Vy nín thở, nhanh chóng mở cửa sổ đồ họa trắc địa, nhập các thông số vật lý của “Trạm Nguồn Vòm Đá Ngầm Số 4” vừa quét từ bản đồ của bà Mỷ: thể tích khoang rỗng ước tính hai mươi nghìn mét khối, chất liệu vách đá vôi carxtơ tuổi kỷ Trias, độ cong vòm parabol đối xứng trục dọc.
Phần mềm mô phỏng không gian chạy thanh xử lý trong ba giây. Khi hai đường cong đồ thị chồng khít lên nhau với độ trùng khớp 98,7%, căn nhà sàn dường như rơi vào một khoảng lặng chết chóc.
“Trời đất...” Tuấn lẩm bẩm, bàn tay siết chặt lấy quai khẩu súng ngắn K54 đã bị tháo chốt an toàn. “Mẹ cô... mười năm trước đã từng bước chân vào căn hầm đá đó?”
“Bà ấy không chỉ bước vào,” Vy run rẩy chạm ngón tay vào màn hình, nơi giao điểm của hai dải sóng âm đang nhấp nháy đỏ rực. “Bà ấy đã bám theo Trịnh Khắc Kiên đến tận sào huyệt của hắn. Mẹ tôi đã phát hiện ra hắn chuẩn bị hoàn thành chương cuối của bản Sonate đầu tiên... nhưng trước khi bà kịp nộp báo cáo cho thanh tra bộ, hắn đã ra tay tạo hiện trường tai nạn giao thông.”
Nam đứng dậy, những khớp xương ngón tay kêu lên răng rắc khô khốc. Anh bước đến sau lưng Vy, nhìn chằm chằm vào biểu đồ dải tần số cộng hưởng. Gương mặt anh lạnh tanh, nhưng cơ hàm bạnh ra, giật giật từng cơn—dấu hiệu cho thấy cỗ máy phân tích logic trong não bộ của cựu giám định viên đang hoạt động hết công suất để giải mã hành vi của một tên sát nhân thái nhân cách.
“Cấu trúc buồng cộng âm parabol này giải thích tất cả,” giọng Nam trầm thấp, đều đều nhưng chứa đựng sự lạnh gáy tột cùng. “Vụ án mười năm trước, thi thể của Lò Thị Sim được tìm thấy dưới chân đèo Ô Quy Hồ với thanh quản bị tổn thương hoàn toàn do chấn thương áp lực âm thanh trước khi rơi xuống vực. Khi đó, tôi đã ngu xuẩn cho rằng đó là do áp suất gió khi nạn nhân lao từ độ cao năm mươi mét. Nhưng không phải.”
Anh cúi xuống, chống hai tay lên mép bàn, dí sát mặt vào màn hình:
“Trịnh Khắc Kiên là một kẻ ái kỷ nghệ thuật ở cấp độ bệnh hoạn nhất. Hắn không chỉ muốn giết người; hắn xem cơ thể con người là một nhạc cụ sinh học hoàn hảo. Một vĩ cầm thủ bậc thầy như Chu Lan Anh sở hữu cấu trúc xương ngón tay, biên độ giãn cơ và tần số dao động lồng ngực hoàn toàn đồng bộ với dải âm thanh của cây vĩ cầm. Hắn giam Lan Anh ở Trạm Nguồn Số 4 vì tiêu điểm của vòm parabol này tập trung toàn bộ năng lượng âm học vào một điểm duy nhất giữa lòng hầm.”
Vy ngẩng lên, hai mắt cô ngập tràn nỗi kinh hoàng: “Ý anh là...”
“Hắn sẽ không giết em gái em bằng một phát súng hay một nhát dao kết liễu nhanh gọn,” Nam nói, từng lời như cứa vào da thịt. “Hắn muốn nốt Finale—khúc vĩ thanh của bản Sonate Dưới Đáy Vực Sương—phải được tấu lên bằng chính tiếng đàn và tiếng thét tột cùng của Lan Anh. Vòm đá vôi tự nhiên sẽ phản xạ, khuếch đại và cô đọng sóng âm đó thành một trường cộng hưởng chết người. Tiếng thét của sự đau đớn tuyệt đối, vang vọng trong không gian âm học hoàn hảo nhất... Đó là khoái cảm nghệ thuật lệch lạc duy nhất mà bộ não thái nhân cách của hắn tôn sùng.”
Một giọt nước mắt nóng hổi lăn dài trên gò má lem luốc của Vy, rơi xuống bàn phím. Cô cắn chặt môi dưới đến bật máu để ngăn không cho tiếng nấc nghẹn bật ra. Em gái cô—cô bé Lan Anh thánh thiện, ngây thơ, người từng rụt rè ôm cây đàn vĩ cầm nép sau lưng cô mỗi khi sấm chớp—giờ đây đang bị xích trong bóng tối ẩm mốc dưới năm độ C, chờ đợi giây phút bị biến thành vật tế thần cho một bản hòa tấu quỷ dữ.
“Đồng hồ tử thần,” Vy nói qua kẽ răng, giọng cô run bần bật nhưng ánh mắt rực lên ngọn lửa căm hờn. “Chúng ta còn bao nhiêu thời gian?”
Tuấn nhìn xuống đồng hồ vệ tinh Garmin trên cổ tay: “Bây giờ là hai giờ ba mươi phút sáng ngày hai mươi ba tháng Mười Hai. Đêm nhạc Giao hưởng Mùa Đông tại Nhà hát Mây Bạc sẽ bắt đầu lúc hai mươi giờ tối nay. Theo lịch trình công khai của ban tổ chức, bản giao hưởng kết màn do chính Trịnh Khắc Kiên chỉ huy sẽ kết thúc vào đúng nửa đêm—mười hai giờ đêm nay.”
“Nghĩa là chúng ta còn chưa đầy hai mươi hai tiếng,” Nam tiếp lời, mắt dán chặt vào sơ đồ cơ khí của hệ thống thủy lực thời Pháp thuộc. “Và Kiên đã tính toán một cái kết hoàn hảo không để lại bất kỳ tì vết nào. Nhìn vào đây.”
Nam rút cây bút chì kim mạ niken trong túi ngực, gõ nhẹ vào cụm ký hiệu ‘Vannes de décharge automatiques à contrepoids hydrostatique’—hệ thống van xả lũ đối trọng thủy tĩnh.
“Hầm ngầm số 4 nằm ngay dưới tầng ngậm nước áp lực cao của mạch ngầm Thác Bạc,” Nam giải thích, nét mặt sắc lạnh của một chuyên gia hiện trường tái hiện rõ rệt. “Hệ thống van này hoạt động bằng cơ chế đối trọng trọng lực và áp lực nước ngầm. Khi chốt hãm cơ học bị giật đứt—hoặc bị kích nổ bằng một kíp điện tử điều khiển từ xa—hàng chục vạn mét khối nước từ hồ ngầm thượng nguồn sẽ trút thẳng xuống họng vực như một thác lũ cuồng nộ. Dòng nước áp lực hàng trăm atmosphere sẽ quét sạch buồng cộng âm, nghiền nát mọi dấu vết, cuốn trôi thi thể Lan Anh cùng toàn bộ vật chứng vi thể xuống vực sâu Mường Hoa.”
“Một vụ sạt lở địa chất tự nhiên do dư chấn của đợt rét kỷ lục,” Tuấn nghiến răng ken két. “Báo chí sẽ đưa tin về sự biến mất bi thảm của một tài năng âm nhạc trẻ trong thiên tai. Quỹ Vọng Âm sẽ tổ chức lễ tưởng niệm long trọng. Còn Kiên...”
“Kiên sẽ không ở lại để nghe những lời tán tụng đó đâu,” Vy cắt ngang, giọng cô đột ngột đanh lại.
Ngón tay cô lướt nhanh trên bàn phím, mở một thư mục ẩn chứa các tệp dữ liệu đã giải mã từ chiếc USB mà cô đánh cắp được từ két sắt văn phòng của Kiên tại khách sạn Mây Bạc trước khi xưởng mộc Cát Cát bị phóng hỏa.
“Các anh nhìn cái này đi,” Vy xoay màn hình máy tính về phía Nam và Tuấn.
Trên màn hình là một bản kế hoạch bay (Flight Plan) được gửi qua mạng liên lạc vệ tinh mã hóa vào lúc mười tám giờ chiều qua, được cấp phép bởi Cục Hàng không Dân dụng dưới danh nghĩa chuyến bay cứu hộ khẩn cấp của một tập đoàn tài chính Thụy Sĩ.
“Một chiếc trực thăng tư nhân Eurocopter EC130,” Vy chỉ vào thông số tọa độ bãi đáp. “Nó được lệnh túc trực sẵn tại bãi đáp trực thăng trên nóc Nhà hát Mây Bạc từ hai mươi hai giờ đêm nay. Và lịch cất cánh chính thức là hai mươi ba giờ ba mươi phút—ngay trước khi nốt nhạc cuối cùng của buổi hòa nhạc khép lại!”
Tuấn trừng mắt, chửi thề một tiếng thô bạo: “Thằng khốn nạn! Hắn đã chuẩn bị sẵn đường rút lui qua biên giới. Chỉ cần trực thăng cất cánh bay qua dãy Hoàng Liên Sơn sang không phận Vân Nam, Trung Quốc, chúng ta sẽ vĩnh viễn không bao giờ chạm được vào hắn!”
“Hắn sẽ đứng trên bục chỉ huy dàn nhạc, bấm nút kích hoạt van xả lũ ngầm thông qua bộ truyền tín hiệu vô tuyến tầm xa cài sẵn trong gậy chỉ huy hoặc đồng hồ đeo tay,” Nam tiếp tục quy nạp, từng mắt xích logic ráp nối vào nhau một cách tàn nhẫn và chuẩn xác. “Khi dòng nước lũ ngầm cuốn trôi Lan Anh dưới đáy vực, hắn sẽ buông cây gậy chỉ huy trong tiếng vỗ tay vang dội của giới tinh hoa, ung dung bước lên sân thượng, lên trực thăng và biến mất vào màn sương mù dày đặc. Một kịch bản tẩu thoát hoàn mỹ không một kẽ hở.”
Không gian trong căn nhà sàn lại chìm vào im lặng. Tiếng gió rít qua vách gỗ nghe như tiếng cười nhạo báng của kẻ thủ ác đang đứng trên đỉnh cao quyền lực, nhìn xuống những kẻ bị dồn vào chân tường.
Tuấn đập mạnh nắm đấm xuống phản gỗ, làm bát nước gừng nảy lên, sánh nước ra ngoài: “Chúng ta không thể trông chờ vào lực lượng Công an tỉnh Sa Pa lúc này nữa. Lệnh truy tìm tôi và lệnh triệu tập cô Vy đã được ký phát tán rộng rãi. Các chốt kiểm soát trên Quốc lộ 4D và các tuyến liên xã đều đã bị phong tỏa bởi người của Ban Giám đốc dưới sức ép hành lang của Kiên. Nếu chúng ta xuất hiện công khai, chúng ta sẽ bị còng tay trước khi kịp mở miệng nói nửa lời!”
“Vậy thì chúng ta sẽ dùng lực lượng của chính chúng ta,” Nam ngẩng lên, ánh mắt anh nhìn thẳng vào mắt Tuấn. “Anh từng nói anh còn những người đồng đội biên phòng trung thành ở Đồn 88?”
Tuấn khựng lại một giây, rồi ánh mắt anh lóe lên tia hy vọng: “Đại úy Triệu Văn Hùng, Đồn phó Đồn Biên phòng Bản Khoang. Mười năm trước, cậu ấy từng là lính trinh sát dưới quyền tôi trong chuyên án ma túy xuyên quốc gia ở thung lũng Mường Khương. Hùng nợ tôi một mạng sống. Quan trọng hơn, Hùng là một người lính biên ải chân chính, cậu ấy không nằm trong mạng lưới ô dù của đám quan chức tỉnh.”
“Liên lạc với Hùng ngay lập tức,” Nam ra lệnh dứt khoát, phong thái chỉ huy của một chuyên gia giám định hiện trường hàng đầu trỗi dậy hoàn toàn, áp chế mọi nỗi hoang mang trong căn phòng. “Yêu cầu một tiểu đội cơ động gồm sáu chiến sĩ tinh nhuệ nhất, trang bị vũ khí cận chiến, đèn pin chiến thuật chống nước, thiết bị lặn dã chiến và bộ đàm tần số ngắn VHF. Không dùng sóng di động, không thông báo qua mạng nội bộ công an.”
Tuấn gật đầu dứt khoát. Anh rút chiếc điện thoại vệ tinh Iridium bọc cao su dày cộp, bước ra góc hiên nhà sàn, bắt đầu bấm một dãy số dài ngoằng để thiết lập đường truyền thoại vệ tinh được mã hóa lượng tử.
Vy nhìn bóng lưng Tuấn ngoài màn sương, rồi quay sang Nam. Đôi bàn tay cô vô thức siết chặt chiếc kẹp tóc dính máu của Lan Anh trong túi áo khoác. Kim loại lạnh buốt cấn vào lòng bàn tay đau nhói, nhắc nhở cô về sinh mạng mỏng manh của người thân duy nhất còn lại trên cõi đời này.
“Chúng ta sẽ đột kích vào căn hầm đá đó như thế nào?” Vy hỏi, giọng cô đã lấy lại sự điềm tĩnh phi thường của một phóng viên điều tra dạn dày sương gió. “Bà Mỷ đã nói, Cửa hang Gió Hú sau miếu thờ ma rừng là lối duy nhất không bị ngập nước. Nhưng nếu Kiên đã biến nơi đó thành lò sát sinh, hắn chắc chắn đã bố trí tay chân canh gác nghiêm ngặt.”
“Đó là lý do chúng ta không thể cùng đổ dồn vào một hướng,” Nam trải rộng tấm bản đồ trắc địa 1930, dùng bút chì vạch hai đường mũi tên đỏ đậm, dứt khoát chia chiến dịch thành hai gọng kìm.

Bình luận chương 0
Đăng nhập để tham gia bình luận.
Đang tải bình luận…