Bản Sonate Dưới Đáy Vực Sương

Chương 13: Tấm Bản Đồ Dưới Lớp Rêu Phong

Cái lạnh âm độ của đèo Ô Quy Hồ như những lưỡi dao băng sắc lẹm thốc qua khung cửa sổ áp mái vỡ toang, thổi tung làn khói cay nồng nặc và cuốn đi hơi ấm ít ỏi còn sót lại trong căn biệt thự gỗ.

Phan Nhật Nam siết chặt vạt áo khoác chắn gió cho Chu Lan Vy, ánh mắt anh không rời khỏi mảnh da cừu dán sáp ong trên lồng ngực người nghệ sĩ già. Từng giọt máu của Lê Khắc Vũ đông cứng lại dưới nhiệt độ khắc nghiệt, chuyển sang màu nâu sẫm như rỉ sét, nhưng thông điệp tàn độc của Trịnh Khắc Kiên vẫn rực lên đầy thách thức dưới ánh đèn rọi vi vết: “Khúc Scherzo đã lỡ nhịp, nhưng nốt Finale sẽ cất lên đúng nửa đêm mai dưới đáy vực sâu.”

Hai mươi bốn giờ. Đó là toàn bộ quỹ thời gian còn lại của Chu Lan Anh trước khi lưỡi dao mổ của kẻ thủ ác hạ xuống.

Tiếng bước chân gấp gáp nện trên cầu thang gỗ kéo Nam trở về thực tại. Hai bóng người mặc áo khoác dã chiến màu rằn ri không phù hiệu, mang theo cáng cứu thương gấp gọn và bình oxy y tế, thận trọng tiến vào phòng. Đó là những người đồng đội cũ của Đặng Minh Tuấn từ trạm tuần tra biên phòng bí mật—những người duy nhất Tuấn dám tin tưởng tuyệt đối vào lúc này.

“Hôn mê sâu do ngộ độc clorofom, nhịp tim yếu nhưng huyết áp tạm thời ổn định,” Tuấn nói nhanh bằng giọng trầm đặc, phối hợp cùng hai nhân viên quân y nâng thân hình gầy guộc của Lê Khắc Vũ lên cáng. “Vết cắt ở ngực chỉ mới chạm tầng thượng bì. Đưa ông ấy về trạm theo đường mòn Thung Lũng Cấm. Tuyệt đối không qua mạng lưới cấp cứu của thị trấn. Tên của bệnh nhân trên sổ bệnh án là vô danh.”

“Rõ, anh Tuấn.” Người lính biên phòng gật đầu dứt khoát, nhanh chóng phủ chăn giữ nhiệt bằng lá nhôm lên người nghệ sĩ viola rồi khiêng cáng rời khỏi căn phòng áp mái trong sự tĩnh lặng tuyệt đối.

Gian phòng chỉ còn lại ba người. Mùi thuốc mê và máu tươi hòa lẫn với mùi thông mục ẩm ướt bốc lên ngột ngạt.

Vy tựa lưng vào mép bàn gỗ, bàn tay trái băng bó trắng toát ghì chặt lấy ngực áo. Cô thở dốc, từng đợt hơi trắng phả ra ngắt quãng trong bóng tối lờ mờ: “Kiên đã biết chúng ta phá được mắt xích thứ ba. Hắn không hề bối rối... Hắn thậm chí còn để lại lời nhắn như thể đã lường trước tất cả.”

“Hắn không lường trước được việc chúng ta đến kịp,” Nam nói, giọng anh trầm lạnh như tảng đá dưới đáy suối. “Nhưng một kẻ ái kỷ cực đoan như Kiên luôn chuẩn bị sẵn kịch bản dự phòng để bảo toàn ảo tưởng về sự toàn năng của bản thân. Khi khúc Scherzo bị gián đoạn, hắn sẽ dồn toàn bộ sự điên cuồng vào nốt Finale.”

Nam không đứng yên để mặc cho sự ức chế xâm chiếm. Đôi bàn tay đeo găng len hở ngón của anh lập tức vận hành theo bản năng nghiệp vụ đã ăn sâu vào tủy sống. Anh quỳ một chân xuống sàn gỗ ngay dưới khung cửa sổ vỡ, nơi tên sát thủ mang mặt nạ sợi carbon đã đạp chân lấy đà trước khi đu dây xuống vách đá.

“Đèn UV, góc ba mươi độ,” Nam khẽ ra lệnh.

Vy lập tức bước tới, bật chiếc đèn soi huỳnh quang chiếu chếch theo hướng tay anh chỉ. Dưới luồng sáng tím lạnh lẽo, những hạt bụi nhỏ li ti phát quang mờ nhạt hiện lên trên mép gỗ sồi. Nhưng thứ Nam chú ý không phải là tơ sợi quần áo.

Đầu ngón tay thon dài của anh dùng mũi dao mổ cẩn thận gẩy nhẹ một mảng vật chất đông cứng bám chặt ở rãnh đinh sắt. Đó là một mẩu đất bùn lẫn với những mảnh khoáng chất lấp lánh như bụi kim loại màu vàng đồng.

Nam mở nắp ống nghiệm vô trùng, gạt mẩu vật chứng vào bên trong rồi đưa lên sát mắt quan sát.

“Bùn khoáng pyrit,” Nam lẩm bẩm, ánh mắt lóe lên tia sáng sắc lẹm. “Không phải đất đỏ bazan thông thường của vùng núi Ô Quy Hồ. Đây là đất sét carxtơ pha quặng pyrit sắt—thứ chỉ hình thành ở các tầng đứt gãy địa chất sâu bị ngập nước lâu năm, nơi có điều kiện yếm khí và hàm lượng lưu huỳnh cực cao.”

Tuấn bước lại gần, hai hàng lông mày rậm nhíu chặt: “Ý cậu là sao, Nam? Tên sát thủ không xuất phát từ thị trấn?”

“Hắn đến từ lòng đất,” Nam đáp, siết chặt chiếc ống nghiệm trong lòng bàn tay lạnh ngắt. Vết rách nơi lòng bàn tay anh nhói lên một cơn đau buốt, giúp anh ghìm chặt cơn ảo thanh tiếng vĩ cầm đang lùng bùng nơi màng nhĩ. “Đế giày dã chiến của hắn mang theo bùn đáy của một tầng hang ngầm ngập nước. Cấu trúc địa tầng pyrit này ở Sa Pa chỉ tập trung duy nhất tại một khu vực: dải đứt gãy kiến tạo chạy ngầm từ chân đập Thác Bạc xuyên qua thung lũng Mường Hoa, nằm sâu dưới biệt thự De La Vallée.”

“Trạm Nguồn Vòm Đá Ngầm,” Vy thốt lên, giọng cô run rẩy nhưng ánh mắt bừng sáng. “Bản thảo của Kiên trong xưởng mộc đã nhắc đến địa danh đó! Lan Anh đang ở đó!”

“Đúng. Nhưng dải đứt gãy đó dài hơn tám cây số, chằng chịt các hốc sụt lún và hang ngầm tự nhiên,” Nam đứng dậy, cất ống nghiệm vào túi áo ngực. “Nếu không có sơ đồ chuẩn xác của hệ thống dẫn nước ngầm, chúng ta sẽ mất cả tuần lễ để mò mẫm dưới hàng triệu khối đá tảng. Mà Lan Anh thì không có một tuần.”

Đúng lúc đó, chiếc máy điện thoại vệ tinh Iridium trong túi áo của Tuấn rung lên bần bật kèm theo tiếng bíp gấp gáp. Tuấn lập tức rút máy, áp vào tai.

Nam và Vy nín thở quan sát sắc mặt viên đại úy. Từng thớ cơ trên khuôn mặt phong trần của Tuấn dần đanh lại, hàm răng anh nghiến chặt đến mức phát ra tiếng ken két.

“Tôi hiểu rồi... Cảm ơn cậu, Hùng. Hãy cẩn thận, đừng để bị cuốn vào,” Tuấn nói ngắn gọn rồi dập máy. Anh ngẩng đầu lên, ánh mắt nhìn Nam và Vy nặng trĩu một áp lực nghẹt thở.

“Có chuyện gì vậy anh Tuấn?” Vy lo lắng hỏi.

“Kiên đã ra đòn trừng phạt,” Tuấn cười nhạt, nhưng nụ cười cay đắng đến rợn người. “Nguồn tin của tôi ở Ban Giám đốc Công an tỉnh vừa báo: Nửa tiếng trước, đích thân một vị Phó Chủ tịch tỉnh phụ trách khối văn hóa xã hội đã gọi điện trực tiếp cho Giám đốc Công an, gây sức ép tuyệt đối để bảo vệ hình ảnh Tuần lễ Mùa đông. Bọn chúng lấy cớ vụ nổ súng và đám cháy tại xưởng mộc Cát Cát để quy kết tôi là kẻ thoái hóa biến chất, cấu kết với các phần tử nguy hiểm gây rối trật tự.”

Tuấn hít một hơi sâu, giọng nghẹn lại: “Công an tỉnh vừa ký lệnh truy tìm nội bộ đặc biệt đối với tôi. Đồng thời, một trát triệu tập thẩm vấn khẩn cấp mang tên Chu Lan Vy đã được gửi tới toàn bộ các chốt kiểm soát giao thông. Tội danh: đột nhập trái phép và đánh cắp tài liệu mật tại trụ sở Quỹ Vọng Âm.”

Căn phòng rơi vào một khoảng lặng chết chóc. Gió tuyết bên ngoài rít lên từng hồi ma quái.

Kiên không chỉ là một tên sát nhân thái nhân cách mang bộ óc nghệ thuật bệnh hoạn; hắn còn là một kẻ quyền lực tột đỉnh, nắm trong tay mạng lưới quan hệ chính trị đủ để biến bộ máy công lý thành công cụ săn lùng chính những người đang truy tìm sự thật.

“Toàn bộ các tuyến đường chính ra vào thị trấn, từ Quốc lộ 4D đến tỉnh lộ 152, đều đã dựng rào chắn kiểm tra vũ trang,” Tuấn nhìn thẳng vào Nam. “Chúng ta bị cô lập hoàn toàn. Chúng ta không còn là những người điều tra nữa... Chúng ta đã chính thức trở thành những kẻ đào tẩu.”

Vy cắn chặt môi đến mức ứa máu. Sự phẫn nộ bùng lên trong mắt cô, dữ dội và thiêu đốt: “Hắn muốn bịt mắt, trói tay chúng ta để ung dung bước lên sân khấu Mây Bạc lúc nửa đêm mai... Hắn muốn biến cái chết của em gái tôi thành một buổi biểu diễn hoàn hảo trước mặt cả giới tinh hoa!”

“Hắn sẽ không đạt được điều đó,” Nam lên tiếng. Giọng anh không hề có sự hoang mang, chỉ có sự sắc bén đến rợn gáy của một chuyên gia hình sự đã nhìn thấu tim gan đối thủ. “Kiên càng vội vã dùng quyền lực chính trị để phong tỏa chúng ta, chứng tỏ hắn càng sợ hãi những chứng cứ vật lý mà chúng ta đang nắm giữ. Hắn sợ ánh sáng. Và một khi hắn đã đẩy cuộc chơi ra ngoài vòng pháp luật, chúng ta sẽ đánh bại hắn bằng chính những quy tắc ngầm.”

Nam quay sang Tuấn: “Tuấn, chiếc xe bán tải của cậu có thể đưa chúng ta đến thung lũng Séo Mý Tỷ mà không đi qua các trạm kiểm soát trên Quốc lộ 4D không?”

Tuấn khẽ giật mình: “Séo Mý Tỷ? Cậu muốn tìm bà Ma Thị Mỷ?”

“Bà ấy là chiếc chìa khóa duy nhất còn sót lại,” Nam gật đầu, ánh mắt kiên định. “Cha của bà Mỷ từng là đội trưởng đội thợ đá người bản địa tham gia đào hệ thống thoát nước ngầm cho người Pháp tại khu vực đập Thác Bạc và biệt thự De La Vallée từ những năm 1930. Mười năm trước, trong hồ sơ vụ án Lò Thị Sim, tôi từng thấy tên bà Mỷ trong danh sách nhân chứng bị gạt ra ngoài lề. Bà ấy biết cấu trúc bên dưới lòng đất Sa Pa tường tận hơn bất kỳ tấm bản đồ quy hoạch hiện đại nào.”

Tuấn nhìn đồng hồ định vị. Con số hiển thị màu đỏ nhấp nháy: 01:15 sáng ngày 23 tháng Mười Hai.

“Được,” Tuấn rút từ thắt lưng ra một chiếc la bàn quân sự cũ và kéo khóa áo khoác. “Chúng ta sẽ cắt qua đường mòn lâm sinh của kiểm lâm, men theo sườn nam dãy Hoàng Liên Sơn. Tuyết đang rơi dày, xe sẽ trượt, nhưng đó là con đường duy nhất không có camera giám sát và trạm kiểm soát của cảnh sát tỉnh. Đi thôi!”

*

Chiếc xe bán tải hai cầu gầm rú nặng nề giữa màn đêm trắng xóa. Gạt nước kính chắn gió hoạt động hết công suất nhưng chỉ có thể gạt đi từng mảng tuyết nhão nhoẹt đang đóng băng ngay khi vừa chạm vào mặt kính.

Không gian bên ngoài cửa xe là một vực thẳm sương mù vô tận. Sa Pa trong đợt rét kỷ lục này như một con quái thú khổng lồ bị đóng băng, im lìm và rình rập. Con đường mòn lâm sinh dẫn vào Séo Mý Tỷ thực chất chỉ là một vệt đất đá gồ ghề men theo rìa vực, một bên là vách đá dựng đứng phủ đầy rêu phong và băng rủ, một bên là khoảng không đen ngòm thăm thẳm.

Trong cabin xe chật hẹp, không ai nói một lời. Vy ngồi ở ghế phụ, hai bàn tay ôm chặt lấy chiếc bọc vải chứa toàn bộ vật chứng: ống nghiệm đựng kẹp tóc dính máu của Lan Anh, tập bản thảo 30 trang đoạt mạng, và mảnh da cừu mang lời khiêu chiến của Kiên. Ánh đèn bảng đồng hồ hắt lên gương mặt thanh tú của cô những vệt sáng xanh xao, làm nổi bật đôi mắt thâm quầng nhưng rực lửa căm hờn.

Phan Nhật Nam ngồi phía sau, lưng tựa vào thành xe, hai mắt nhắm nghiền nhưng tâm trí anh đang vận hành với tốc độ của một cỗ máy phân tích dữ liệu.

Anh đang tái hiện lại hiện trường biệt thự De La Vallée mười năm trước trong tâm tưởng. Cái chết của Lò Thị Sim. Căn hầm đá ẩm mốc rỉ máu. Và sai lầm chết người của chính anh khi bỏ qua mẫu sợi tơ dệt dây đàn cổ điển—sai lầm đã khiến anh tự lưu đày mười năm trong men rượu và sự dằn vặt.

“Mày không thể cứu được ai cả, Nhật Nam...” Tiếng thì thầm ma quái của Trịnh Khắc Kiên tại dạ tiệc Mây Bạc lại dội về, kèm theo chuỗi âm thanh rít rỏng, chói gắt của cây vĩ cầm kéo trên dây rỉ sét.

Bàn tay Nam vô thức siết chặt. Cơn đau nhói từ vết rách ở lòng bàn tay truyền thẳng lên não bộ, xé toạc làn sương mù ảo giác. Nam mở mắt, ánh nhìn sắc như dao rọi thẳng vào bóng tối phía trước.

Lần này sẽ khác. Bằng chứng vật lý không bao giờ nói dối. Và anh sẽ không cho phép Kiên biến sự thật thành một nốt nhạc trong bản giao hưởng máu của hắn.

Sau gần hai tiếng đồng hồ vật lộn với những khúc cua tay áo đóng băng trơn trượt, chiếc xe bán tải khựng lại trước một rãnh tuyết sâu ngập nửa bánh xe. Phía trước, con đường mòn hoàn toàn bị vùi lấp bởi một trận lở tuyết nhỏ.

“Hết đường xe chạy rồi,” Tuấn tắt đèn pha lớn, chỉ để lại đèn gầm màu vàng mờ ảo để tránh gây chú ý từ xa. “Cách lán gỗ của bà Mỷ khoảng tám trăm mét nữa. Chúng ta phải đi bộ.”

Ba người bước xuống xe. Gió lạnh lập tức táp vào mặt như kim châm, nhiệt độ ngoài trời lúc này đã tụt xuống âm ba độ C. Tuyết ngập tới bắp chân, mỗi bước đi là một sự tra tấn đối với thể lực. Nam đi đầu, dùng một cành cây gãy dò đường tuyết; Tuấn đi sau cùng cảnh giới với khẩu súng phóng điện trong tay, còn Vy lọt thỏm ở giữa, kiên cường cắn răng bước đi không một lời than vãn dù cổ tay bị bỏng đang giật lên từng cơn đau buốt.

Vượt qua một rặng sa mu cổ thụ phủ đầy rêu phong đóng băng, lán gỗ của bà Ma Thị Mỷ hiện ra cô độc bên sườn đồi dốc đứng nhìn xuống thung lũng Séo Mý Tỷ.

Đó là một căn nhà gỗ pơ mu thấp tè, mái lợp ván xẻ đã ngả màu xám xịt vì mưa nắng qua hàng thập kỷ. Băng tuyết đóng thành những chùm nhũ dài rủ xuống từ mép mái nhà, trông như hàm răng của một con thú tiền sử. Từ khe vách gỗ, một làn khói mỏng manh mang theo mùi củi thông cháy sực và mùi thuốc lào ngai ngái lờ lững bay ra, nhanh chóng bị gió tuyết xé tan.

Tuấn bước lên bậc thang gỗ trơn trượt, gõ nhẹ lên cánh cửa liếp ba tiếng theo nhịp quy ước của người đi rừng.

Bên trong lập tức im bặt. Tiếng thở phì phò của điếu cày ngừng bặt, thay vào đó là tiếng lạo xạo của kim loại va vào nhau—tiếng một lưỡi dao quắm sắc bén đang được rút ra khỏi bao tre.

“Ai?” Một giọng nói khàn đặc, the thé và đầy cảnh giác vọng ra bằng tiếng Kinh lơ lớ giọng H'Mông. “Nửa đêm nửa hôm, ma rừng hay người của thằng Kiên đấy?”

Nghe thấy cái tên “thằng Kiên”, Nam và Tuấn nhìn nhau. Trực giác của Nam đã chuẩn xác: người đàn bà này không hề quên.

“Bà Mỷ, là cháu, Đặng Minh Tuấn đây,” Tuấn ghé sát miệng vào khe cửa, hạ thấp giọng. “Cháu của ông Đặng Văn Thông, Đồn biên phòng Cầu Mây ngày xưa. Cháu đi cùng hai người bạn cần bà cứu mạng.”

Căn nhà im lặng một lúc lâu. Có tiếng bước chân khập khiễng lê trên sàn gỗ ọp ẹp. Cánh cửa liếp hé mở một khe hẹp vừa đủ một ánh mắt nhìn ra.

Dưới ánh sáng lờ mờ của ngọn đèn dầu bập bùng bên trong, hiện ra một khuôn mặt già nua chằng chịt những nếp nhăn sâu hoắm như rễ cây rừng. Bà Ma Thị Mỷ trùm một chiếc khăn len chàm cũ kỹ, lưng còng gập xuống, một bên mắt đục ngầu vì chứng đục thủy tinh thể do sương gió lâu năm, nhưng con mắt còn lại thì lóe lên sự sắc sảo, đa nghi đến tột độ. Ánh mắt bà lướt qua bộ quân phục dã chiến của Tuấn, rồi dừng lại trên người Vy và Nam.

Lưỡi dao quắm trên tay bà hạ xuống nửa gang tấc, nhưng cánh cửa vẫn chưa mở rộng: “Cán bộ Tuấn... Sao mày lại lên đây vào đêm bão tuyết này? Tao đã nói từ mười năm trước rồi, tao không biết gì hết! Cái miệng này muốn sống để nhìn mặt đàn cháu, không muốn bị vùi dưới hốc đá đâu!”

Nói đoạn, bà lão toan đẩy cánh cửa đóng sầm lại.

“Bà Mỷ,” Nam bước lên nửa bước, giọng anh trầm tĩnh nhưng mang một sức nặng vô hình khiến cánh cửa khựng lại. “Mười năm trước, bà im lặng vì lời đe dọa chôn sống của Trịnh Khắc Kiên. Và mười năm qua, bóng ma của hắn có để cho bà ngủ yên một đêm nào không?”

Đăng nhập để thả tim Đăng nhập để tương tác

Ủng hộ tác giả Nhật Minh
Mỗi lời động viên là động lực để tác giả tiếp tục sáng tác.

Nhật Minh

Tác giả của câu chuyện này · Hãy cùng ủng hộ những chương tiếp theo.

Đăng nhập để theo dõi

Bình luận chương 0

Đăng nhập để tham gia bình luận.

Đang tải bình luận…