Bẫy Cát Lọc Ngược Cứu Đập Tràn Mùa Lũ
Chương 2: Tử Huyệt Cọc Số Bảy
Thanh âm “lục bục... lục bục” nghẹn ứ ấy tựa như một hồi chuông báo tử gióng thẳng vào tâm trí Dương Cảnh Thạc, kéo ông về thực tại hiểm nghèo. Ông đứng sững trên đỉnh đập chính, bàn tay gầy gò siết chặt cán gậy tre đực đến mức các khớp ngón tay nhô lên trắng bệch. Giữa tiếng gió rít điên cuồng qua rặng bạch đàn ven hồ và tiếng mưa quất ràn rạt vào nền đất lạnh buốt, thứ âm thanh trầm đục phát ra từ tầng đất sâu không hề tan biến mà mỗi lúc một thêm dồn dập, tựa hồ tiếng thở nặng nhọc của một con quái thú đang cựa mình dưới đáy móng.
Không một giây chần chừ, lão Thạc xoay người, dồn toàn bộ sự chú ý về phía bờ đập phụ.
Đoạn đập đất phụ dài hai trăm mét nối liền mỏm đồi đá chòi gác với chân sườn núi phía tây, lúc này chìm ngập trong màn đêm đen đặc. Nước mưa từ đỉnh đập tuôn xối xả thành từng rãnh xói nông, biến mặt đất đắp thành một dải bùn nhão nhoét trơn như bôi mỡ. Khớp gối chân phải của lão nhức buốt từng cơn dữ dội; mỗi lần dồn trọng tâm bước tới, mảnh kim khí pháo cối găm trong xương thịt lại như cào xé buốt tận tủy sống. Thế nhưng, vị giáo sư bảy mươi sáu tuổi trong hình hài ông lão thương binh tật nguyền cắn chặt răng chịu đựng. Chiếc gậy tre đực cắm ngập từng tấc bùn lầy, trở thành điểm tựa vững chãi chống đỡ cho tấm thân còng rạp bước đi khập khiễng giữa cuồng phong.
Ký ức về từng con chữ trong cuốn tiểu thuyết “Dòng Nước Cuộn Đỏ” cuộn trào bỏng rát trong đầu ông.
Theo nguyên tác, đoạn đập phụ này được khởi công vội vã vào mùa khô năm ngoái để kịp tiến độ đón cờ luân lưu thi đua chào mừng Đại hội. Đội thi công cơ giới do Đội trưởng Vũ Văn Thưởng phụ trách đã bòn rút không biết bao nhiêu phuy dầu máy, ăn bớt số lượt lu lèn mặt đất đắp. Tệ hại hơn cả, ngay tại vị trí cọc số 7, một lòng hào trũng ngập ngụa bùn tạp cùng rễ keo, rễ bạch đàn mục nát đã không hề được bóc tầng phong hóa theo đúng quy trình quy phạm kỹ thuật thủy lợi. Để kịp ngày khánh thành lĩnh thưởng, Thưởng đã xua máy ủi đùn đất sét pha cát phủ lấp lên trên, chôn chặt mớ rác rưởi ấy sâu dưới đáy thân đập như một mầm mống tai họa ngầm.
Trong trang sách cũ, chính hiểm họa giấu kín nơi cọc số 7 đã bục vỡ giữa trận bão lớn này, khoét rỗng thân đập và nhấn chìm toàn bộ vùng lòng chảo hạ lưu trong thảm họa bùn đỏ.
Lão Thạc nheo mắt nhìn qua làn mưa trắng xóa. Dưới ánh sáng vàng vọt leo lét của ngọn đèn bão Hoa Kỳ xách trên tay, bóng dáng cọc mốc bằng gỗ bạch đàn đẽo vuông hiện ra mờ ảo bên mép đập. Lão bước dồn tới gần. Trên thân cọc gỗ nứt nẻ, con số “7” quét bằng sơn đỏ tuy đã bong tróc nham nhở nhưng vẫn hiện rõ mồn một.
Tiếng “lục bục” ma quái phát ra từ ngay dưới chân taluy mái hạ lưu, cách cọc mốc chừng mười lăm mét.
Lão Thạc hít sâu một hơi buốt lạnh, cẩn trọng dò từng bước chân tập tễnh men theo triền dốc đất trơn trượt để tụt xuống chân mái đập. Nước từ sườn đập chảy tràn xuống rãnh thoát, nhưng đất bùn ở khu vực này lại mang một sắc thái hoàn toàn dị thường. Đất không chỉ ướt sũng do mưa ngấm, mà nhão nhoét, bùng nhùng tựa như một lớp thạch lỏng rệu rã.
Lão ngồi thụp xuống mép một hõm đất trũng, nâng cao chiếc đèn bão rọi sát mặt bùn.
Lồng ngực lão Thạc thắt lại. Hiện ra trước mắt ông là một vũng nước đọng đường kính chừng hơn nửa mét, nước đục ngầu một màu đỏ quạch phù sa lẫn hạt bùn xám xịt. Giữa tâm vũng nước, từng chùm bọt khí to bằng đầu ngón tay không ngừng trồi lên từ đáy bùn, nổ lách tách thành từng đám bọt bèo li ti trôi dạt ra mép. Cùng với những bọt khí ấy, từng tia cát mịn lơ lửng cuộn xoáy trào dâng, tạo thành hình phễu ngược ngay dưới đáy nước.
Đất xung quanh vũng rỉ đã hoàn toàn mất đi sức chịu tải. Lão Thạc thử tỳ nhẹ mũi gậy tre xuống mép nước; không hề có chút lực kháng cự nào, thân gậy lập tức lún sâu hơn hai gang tay ngập vào bùn nhão mà không chạm tới tầng đất cứng.
Hiện tượng cát chảy!
Lão Thạc run rẩy vục bàn tay chai sần xuống đáy vũng nước, bốc lên một nắm bùn nhão sền sệt. Ông đưa nắm bùn lại gần ngọn đèn bão rồi áp sát mũi ngửi.

Bình luận chương 0
Đăng nhập để tham gia bình luận.
Đang tải bình luận…