Bột Vôi Vỏ Sò Đổi Màu Đồng Phèn
Chương 2: Hạt Mầm Trên Gác Bếp
Cụ Vân Chiêu Khôi bước chân trần lên thềm đất ẩm, đưa vạt áo nâu sồng gạt đi nắm bùn đỏ quạch còn bám nơi kẽ ngón tay. Trước mặt cụ, thím Hai Lành hai vai gầy run rẩy, vội vã đưa chéo áo vá quệt ngang dòng nước mắt đầm đìa:
“Cụ ơi... đội ơn cụ vừa đứng ra che chở cho mẹ con con trước lũ ác nhân... Nhưng Tiền trang chủ khét tiếng tàn độc, chúng nói ba ngày là đúng ba ngày sẽ kéo người tới phá nhà siết đất. Mười lăm quan tiền kẽm... dẫu có bán cả mạng mẹ con con đi cũng chẳng bới đâu ra ngần ấy tiền...”
Cụ Khôi chống gậy tre bước tới bên bậu cửa, nhìn người góa phụ khốn khổ rồi ôn tồn bảo:
“Thím nó bình tâm lại đã. Cứ ngồi xuống đây uống ngụm nước, kể rành rọt cho lão nghe đầu đuôi ngọn ngành món nợ này xem sao.”
Thím Lành ngồi sụp xuống bậu cửa, nghẹn ngào kể lại. Vụ trước, sau khi chồng đắm thuyền bỏ mạng ngoài biển khơi, trong nhà chẳng còn lấy một hạt gạo lót dạ cho con thơ, thím đành cắn răng sang Tiền gia trang vay ba quan tiền kẽm đong gạo và mua giống gieo cấy. Ngờ đâu hạn khô chưa dứt thì nước lụt tràn về, cuốn theo phèn độc từ lòng đất rỉ ra đỏ lòm khắp mặt ruộng. Lúa vừa bén rễ non đã bị phèn thiêu cháy lá, thối đen cả gốc rạ, mùa màng mất trắng.
Khoản nợ ba quan ban đầu bị Tiền Bá Vạn vin vào khế ước tính lãi mẹ đẻ lãi con, mỗi tháng một tăng, đến nay đã đội lên thành mười lăm quan tròn trặn. Thím Lành nấc nghẹn:
“Không riêng gì nhà con đâu cụ ơi. Cả tổng Bạch Nham này, từ thôn Cồn Cát đến làng Bãi Ốc, nhà nào cũng khốn đốn vì đất ngậm phèn máu trâu. Lúa cấy xuống là chết, khoai hà củ hỏng. Dân làng quanh năm đứt bữa, ai nấy đều phải gõ cửa Tiền gia trang vay thóc chịu nợ. Giờ lão Tiền đang ráo riết ép nợ, mưu toan cướp sạch ruộng đất của bà con để biến cả vùng này thành ruộng muối độc quyền.”
Nghe thím Lành giãi bày, cụ Khôi khẽ vuốt chòm râu bạc dài, ánh mắt đăm chiêu nhìn ra ngõ. Con người ta muốn sống thì phải có tấc đất cắm dùi, có hạt lúa bỏ bụng. Muốn cứu mẹ con thím Lành và chặn đứng dã tâm của Tiền Bá Vạn, mấu chốt duy nhất là phải thuần phục được thứ bùn đất ngậm độc kia.
“Thím nó ở nhà trông nom bếp núc, lão dắt con bé Mận ra mé bãi hoang xem xét một lát.”
Bé Mận lon ton chạy lại níu vạt áo cụ:
“Ông nội Khôi ơi, con dắt ông đi! Ngoài bãi có nhiều vũng nước đỏ quạch buồn cười lắm, hôm nọ con thấy đàn cá con bơi vào đấy cũng lờ đờ rồi chết phơi bụng.”
Cụ Khôi mỉm cười xoa nhẹ chỏm tóc củ tỏi của con bé rồi dắt tay nó bước ra ngõ. Hai ông cháu men theo bờ đất trũng tiến về bãi hoang thôn Cồn Cát. Gió từ cửa Hàm Giang thổi vào mang theo vị mặn của muối và mùi tanh nồng của bùn rỉ sắt. Cảnh tượng trước mắt hoang tàn đến nao lòng. Dọc những vạt ruộng bỏ hoang, nước đọng thành từng vũng đỏ nhờn nhợt như máu trâu, trên mặt nổi từng mảng váng vàng ệch như gỉ sắt. Cỏ lác, cỏ năn còi cọc mọc lơ thơ, đầu ngọn cỏ quắt queo tím tái.
Cụ Khôi xắn ống quần nâu lội xuống mé rãnh ruộng. Bùn lầy dẻo quánh ôm chặt lấy chân cụ, lạnh buốt và nhớp nháp. Cụ cúi người, vươn hai bàn tay chai sần bới sâu xuống đáy bùn, nhổ bật một gốc rạ mục còn sót lại từ vụ trước.
Đưa gốc rạ lên ngang tầm mắt, cụ chăm chú quan sát. Chùm rễ lúa không hề tỏa rộng mà co cụm lại, đen thui như than củi, thân rạ mục mủn bốc mùi chua nồng gắt mũi. Cụ Khôi miết nhẹ đầu ngón tay vào lớp bùn bám quanh gốc. Đất ở tầng sâu hai tấc có màu xám đen pha lẫn những đốm vàng lấm tấm.
Kinh nghiệm cả một đời mách bảo cụ rằng đây chính là tầng đất tích tụ mầm mống chua chát ngàn năm. Khi nắng hạn làm nứt nẻ mặt ruộng, độc chất tiềm tàng theo hơi ẩm bốc ngược lên trên; gặp mưa xuống hay con nước tràn vào, nó hòa tan thiêu cháy rễ non. Nếu cứ cắm mạ xuống đất này mà không thau rửa, không trừ độc gắt, thì dẫu gieo bao nhiêu giống má cũng chỉ uổng công.
“Ông nội Khôi ơi, đất này ốm nặng lắm phải không ông?” Bé Mận đứng trên bờ cỏ hỏi nhỏ, giọng trong trẻo đượm vẻ lo âu.
Cụ Khôi bước lên bờ, rửa tay vào vũng nước trong ven gò cát, dịu dàng bảo:
“Đúng rồi cháu ạ. Đất này đang ngậm độc trong bụng, giống như người bị tích độc sinh ra ung nhọt. Nhưng trời đất sinh vạn vật ắt có thuốc chữa, chỉ là người đời chưa tìm ra cách giải độc cho đất mà thôi.”
Hai ông cháu quay về lều tranh khi bóng nắng đã ngả chiều. Cụ Khôi ngồi trầm ngâm bên chiếc chõng tre ọp ẹp nơi góc nhà. Trong đầu cụ, những phương án nung vôi vỏ sò khử chua và đào mương xả nước đón nhịp triều đang dần thành hình rõ nét. Thế nhưng, một chướng ngại lớn bỗng hiện ra: muốn cấy thử nghiệm thì phải có hạt giống. Nhớ lại lời thím Lành vừa kể, cụ biết rõ rằng mọi kho lúa giống trong hạt đều nằm trọn trong tay Tiền gia trang. Lão Tiền đã phong tỏa nguồn giống, không bán ra ngoài nửa đấu, quyết dồn dân làng vào đường cùng để đoạt đất. Không có thóc giống sạch phèn, dẫu cải tạo xong đồng đất thì lấy gì gieo cấy?

Bình luận chương 0
Đăng nhập để tham gia bình luận.
Đang tải bình luận…