Cái Bát Gốm Nứt Gắn Mảnh Đồng Của Nội
Chương 24: Mảnh đồng ấm bếp
Cụ Lương nâng niu chiếc cần cung tre và cây búa nhỏ bọc da trâu trong đôi bàn tay gầy gò nổi rõ những đường gân xanh. Cụ bước từng bước chậm rãi từ góc tủ thờ trở lại bên manh chiếu hoa. Hai con trai cụ vẫn ngồi ngay ngắn, lưng thẳng tắp, nét mặt đượm vẻ kính cẩn. Bác Ba Đờn khẽ ngả người dựa vào vách ván, nụ cười đôn hậu nở trên môi người thợ mộc già, nhường trọn khoảnh khắc thiêng liêng cho ba cha con họ Cung.
Cụ dừng lại trước mặt hai đứa con. Chiếc cần cung tre đực ngả màu cánh gián sau nửa thế kỷ đồng hành cùng cụ qua bao mưa nắng, dây cung bện bằng gân bò bóng loáng mỡ gà. Chiếc búa nhỏ cán gỗ mun, đầu bọc miếng da trâu thuộc kỹ càng, nơi từng cú gõ đã ghì giữ biết bao mảnh vỡ của đời người.
“Trọng, Nghĩa,” cụ Lương cất giọng trầm ấm, âm vang mộc mạc như tiếng đất nung chạm gió sông. “Nghề vá gốm của họ Cung mình hổng phải để làm giàu. Đồ sành, đồ gốm giòn lắm, va quẹt chút xíu là mẻ, là nứt. Người đời quý chén kiểu lành lặn, nhưng khi đồ bể đồ nứt, họ mới tìm tới tụi mình. Giữ lấy cái cần cung này đặng giữ cái tâm kiên nhẫn. Cầm cây búa này đặng nhớ lòng bao dung. Cứng quá thì gãy vụn, chỉ có mảnh đồng mềm lựa theo thớ rạn mà ôm lấy nhau mới bền chặt trăm năm.”
Cụ cúi người, trân trọng đặt chiếc cần cung tre vào lòng tay mở rộng của Trọng. Rồi cụ quay sang Nghĩa, trao cây búa bọc da trâu vào bàn tay thô ráp của người con trai út.
Hai anh em run rẩy đón nhận. Trọng ngẩng lên nhìn cha, khóe mắt người đàn ông bốn mươi sáu tuổi đỏ hoe. Những cay đắng, ê chề từ chuỗi ngày bươn chải nơi kinh tế mới, nỗi đau mất vợ và mặc cảm trắng tay ăn bám bấy lâu nay dường như tan biến sạch trơn dưới sức nặng ân tình của thanh tre uốn cong.
“Con lạy cha,” Trọng cúi rạp người xuống mặt ván, giọng khàn đặc vì xúc động. “Con xin tạc dạ lời cha dạy. Từ nay con xin làm trụ cột cùng chú Ba gánh vác cái nghề của cha, giữ trọn mái ấm cho đàn con.”
Bên cạnh, Nghĩa chống chiếc nạng gỗ nghiêng sát bờ vách, anh quỳ một bên gối gập vững chãi, ghì chặt cây búa bọc da trâu vào ngực mình. Mỏm chân cụt sau lớp vải gạc đã kéo da non khô ráo, không còn vẻ đau đớn nhăn nhó như những đêm dầm nước lũ. Nghĩa ngước nhìn người anh cả, rồi nhìn lên cha già, đôi môi mím chặt run run:
“Con đội ơn cha, đội ơn anh Hai. Trước đây con u mê cay nghiệt, cứ ngỡ mình tàn phế là đồ bỏ đi. Nay có nghề cha truyền, có anh Hai ghé vai che chở, con biết mình còn đôi tay, còn sức lực để nuôi thằng Bình khôn lớn, đặng phụng dưỡng cha tới ngày răng long đầu bạc.”
Cụ Lương mỉm cười đôn hậu, đưa hai bàn tay già nua run rẩy xoa lên bờ vai gầy của hai con trai. Cái lạnh lẽo ẩm mốc của mùa lũ lịch sử dường như bị đẩy lùi hoàn toàn ra ngoài khung cửa liếp.
Ở mép phản, bé An và thằng Bình ngồi chồm hổm, hai cái đầu nhỏ chụm vào nhau ngắm nghía chiếc bát men da lươn vừa được đặt giữa mâm gỗ lim. Lớp men màu cánh gián sâu thẳm nổi bật bốn chiếc chốt đồng thau hình chữ U óng ánh sắc vàng, xếp đều đặn như chiếc xương cá cổ kính nối liền hai bờ vệt nứt.
Thằng Bình đưa ngón tay trỏ ve vuốt lên đầu mũi đinh thứ tư vừa được tán phẳng lì, hếch mũi thì thầm:
“Chị An nhìn nè, mẩu đồng của bác Ba Đờn cho mài lên bóng lưỡng luôn hé! Sáng mai em phụ ba Ba mài thêm chục cái chốt nữa. Hồi nãy bác Năm cồn bên kia nhắn có cái khạp da chuối muối dưa mười năm bị nứt đáy, nhờ nhà mình sang khoan vá giùm đó!”

Bình luận chương 0
Đăng nhập để tham gia bình luận.
Đang tải bình luận…