Cánh Diều Khung Tre Dẫn Lối Đò Âm
Chương 22: Thanh Khí Nối Trời Xanh
Ngọn gió bấc non từ biển thổi vào rặng bần mang theo hơi mặn trong lành, mơn man làn da đồi mồi của cụ Ung Hoài San. Cụ khẽ khép hờ mi mắt, ngậm một ngụm khí mặn lành lạnh vào lồng ngực rồi chậm rãi thở ra theo phép dưỡng sinh điều tức. Khi mở mắt ra, cụ thấy hàng chục dân phu xóm muối đang túa mồ hôi trên nền đất cũ bên mép lạch. Người ghì cột, kẻ buộc lạt giang, những bó rạ nếp vàng óng tỏa hương thơm lừng được chuyền tay nhau lợp thoăn thoắt lên mái. Gian chòi tre ba gian vững chãi dần thành hình, thay thế cho túp lều rách nát từng bị ngọn lửa độc ác của kẻ gian thiêu rụi. Mùi cật tre ngâm bùn chua dẻo quánh quyện chặt vào mùi rạ mới, tạo nên thứ hương vị ấm nồng của sự hồi sinh.
“Cụ ơi, cụ ngồi nghỉ chân xơi chén nước vối nóng ạ!” Một người đàn bà xóm bãi lễ phép bưng bát gốm da lươn bốc khói nghi ngút đến bên phiến đá.
Cụ San đón lấy bát nước, mỉm cười đôn hậu:
“Đa tạ bà con. Có mái nhà này che mưa nắng, lão già này thỏa dạ lắm rồi.”
Khi đòn nóc vừa được buộc chặt ba nút lạt son, cụ San cùng dân làng bắt tay vào công việc hệ trọng. Cụ nâng dải lụa mềm, cẩn thận lau từng hạt bụi cát bám trên vành miệng gỗ mít của dàn sáo Ngũ Linh Thần Âm. Năm ống sáo Còi, Đôi, Ba, Bốn, Mẹ bóng loáng màu mật ong già, từng thớ gỗ dăm mỏng như cánh ve vẫn còn vương chút phong trần sau đêm cuồng phong dẹp yên sóng dữ. Cụ vuốt dọc sống lưng đại diều dài hai trượng bồi bằng lụa tơ tằm quét nước vôi tôi, lòng trào dâng niềm cảm khái vô bờ.
Dưới sự cung kính của các bậc cao niên và bà con xóm muối, dàn đại diều cùng bộ sáo thần âm được rước trang trọng về phía đình hội đồng bãi bồi. Họ cẩn thận treo cánh diều lớn lên gian chính diện, ngay dưới bức hoành phi cổ. Cánh diều sừng sững như một cánh buồm no gió, chở che linh khí cho cả vùng sông nước, trở thành bảo vật trường tồn minh chứng cho lẽ công bằng và tình người son sắt nơi cửa biển Cửa Đáy.
Trở về căn chòi tre vừa dựng xong, cụ San ngồi xếp bằng bên chiếc bàn gỗ mít quen thuộc. Nắng chiều rọi qua khe liếp rạ, dát những vệt vàng ươm lên mặt bàn nhẵn bóng. Cụ vẫy tay gọi người đệ tử trẻ đang đứng lấp ló ngoài cửa chái:
“Văn, vào đây với lão.”
Lê Khắc Văn bước nhẹ vào gian chòi thơm mùi rạ, đôi mắt sáng ngời nét kiên nghị nhưng đượm vẻ kính cẩn. Chàng quỳ xuống bên chiếc chiếu cói bạc phếch.
Cụ San với tay mở chiếc tráp tre nhỏ đặt ở góc bàn, lấy ra một con dao bài lưỡi thép xanh biếc, cán gỗ lim đã lên nước bóng ngời vì mồ hôi tay qua mấy mươi năm gắn bó. Bên cạnh con dao là một tập giấy bản ố vàng chép tay những nét chữ chân phương về khẩu quyết vót cật tre, cách nắn cung cánh cốc, cùng thuật nghe tiếng gió luồn qua rặng phi lao để đoán định hàn nhiệt đất trời.
“Con cầm lấy,” cụ San từ tốn đặt con dao và tập khẩu quyết vào hai bàn tay thô ráp của người học trò. “Oan khiên của mười hai phu muối đã được rửa sạch, kẻ thủ ác đã đền tội, ruộng đất đã về với dân cày. Nhưng khúc sông này dẫu phẳng lặng vẫn cần có người giữ lấy thanh khí. Đạo làm diều không cốt ở sự phô trương tài nghệ, mà là nương theo lẽ trời đất để định tâm, cứu rỗi những u uất lầm lạc. Lão nay tuổi đã tám mươi sáu, sức tàn như ngọn đèn trước gió biển, trao lại con dao này cho con, xem như trao trọn hồn cốt của tiếng sáo diều bãi bồi.”
Bàn tay Văn run lên khe khẽ khi đón nhận con dao gia truyền. Những vết cứa cật tre trên ngón tay chàng như nóng ran lên vì xúc động. Chàng cúi rạp đầu sát mép chiếu, thanh âm rắn rỏi mà nghẹn ngào:
“Ơn dưỡng dục và chỉ dạy của cụ sâu như biển rộng. Con xin khắc ghi từng lời cụ dặn, đời đời giữ gìn nghề sáo diều để che chở cho dân xóm bãi, không phụ tấm lòng bồ tát của cụ.”

Bình luận chương 0
Đăng nhập để tham gia bình luận.
Đang tải bình luận…