Chấn Tử Điện Biên Soi Luồng Khói Độc
Chương 24: Bóng cước đường mây
Sáng sớm tinh mơ, sương mây mỏng tang còn lãng đãng quanh đỉnh cột thu lôi cao hai mươi thước tây của trạm bưu điện. Gió từ đỉnh Sam Mứn thổi về nhè nhẹ, luồn qua những thanh chấn tử bằng đồng thau tạo nên chuỗi âm vang vi vu như tiếng đàn giữa đại ngàn. Cụ Cảnh Doãn Hạc khép nhẹ nắp rương gỗ, cẩn thận gấp tấm thổ cẩm dệt hoa ban trắng mà đồng bào bản Mo trao tặng đặt vào bao vải thô nhuộm chàm. Hành trang của một bậc dị nhân sống qua hơn một thế kỷ rưỡi phong trần vỏn vẹn chỉ có hai bộ quần áo mộc, một bầu nước mát và gói lương khô.
Cụ đứng lặng bên khung cửa sổ gian máy, ánh mắt trong vắt nhìn bao quát trạm bưu điện thân thuộc. Từng góc xưởng nguội, cuộn dây điện tín bọc chỉ, chiếc bàn sồi đặt máy galvanometer... đều gắn bó với cụ suốt bao năm tháng náu thân ẩn dật. Ký ức lướt qua tâm trí: từ ngày đầu tới chốn mù sương bảo dưỡng dây thép gió, đến đêm giông bão kho muối rực cháy ngọn lửa tím và phiên công đường đanh thép vạch trần kẻ ác. Mọi hiểm nguy nay đã lùi xa, nhường chỗ cho sự an định vững bền.
Tiếng then cài cửa khẽ lay động, Trần Đình Quỳ bước vào, tay vẫn cầm chiếc giẻ lau máy lấm tấm dầu mỡ. Người thợ máy trẻ hôm nay đĩnh đạc trong bộ đồng phục bưu điện chỉnh tề, ngực áo cài chiếc huy hiệu kỹ thuật viên vừa được công điện từ Hà Nội phục hồi danh dự. Thấy cụ già đã khoác túi vải, Quỳ sững sờ dừng bước, đôi mắt sau cặp kính đồi mồi mở to bàng hoàng:
“Cụ Hạc... Thầy định rời đi thật sao?”
Cụ Hạc mỉm cười đĩnh đạc, khẽ vẫy tay:
“Lại đây với lão, chú em.”
Quỳ ngập ngừng bước tới. Cụ Hạc đặt tay lên vai chàng trai trẻ, rồi nhấc chiếc túi da bò sờn cũ đặt lên bàn gỗ. Đó là túi đồ nghề đã theo cụ suốt mấy chục năm, bên trong xếp ngay ngắn bộ đục sắt, cây kìm nguội và cuộn dây đồng thau óng ánh. Bên cạnh túi da là tập bản thảo viết bằng mực tàu trên giấy bản phẳng phiu vừa ráo mực, bốn góc nẹp cật nứa: cuốn “Vô tuyến điện ký yếu miền sơn cước”.
“Công điện từ Hà Nội đã rửa sạch oan khuất ba năm trước, trao quyền Trưởng trạm Bưu điện - Vô tuyến Sơn La cho cháu,” giọng cụ Hạc trầm ấm. “Chặng đường giữ gìn huyết mạch thông tin miền sơn cước này nay giao lại cho cháu. Chiếc túi đồ nghề và tập ký yếu này là kinh nghiệm thực nghiệm cả đời của lão, tặng lại chú em làm kỷ vật tiếp bước.”
Quỳ run run đỡ lấy tập bản thảo. Từng nét chữ mực tàu nắn nót, từng sơ đồ hình học góc lệch sóng vi ba, kỹ thuật quấn cuộn cảm và quy tắc đo tán xạ sol khí đều được ghi chép tường tận. Đôi mắt người thợ máy trẻ hoe đỏ:
“Thầy... Tri thức này quý hơn vàng ngọc, cháu sợ sức mình non nớt khó lòng gánh vác trọn vẹn...”
“Chớ tự ti, chú em,” cụ Hạc bao dung lắc đầu. “Bách nghệ vô tuyến điện dẫu tinh vi đến đâu cũng chỉ là công cụ nối dài của tai mắt con người. Cột thu lôi, chấn tử hay kim đo galvanometer vốn vô tri, chỉ khi người cầm máy lấy lòng thương dân, giữ gìn sự sống và đức tính trung thực làm gốc thì khoa học mới tỏa sáng công lý ấm áp. Kẻ gian như Đào Bá Hậu mượn quyền bóp méo sự thật cũng vì tham lam. Cháu giữ tâm trong sạch, kiên định thực nghiệm duy vật, ắt chở che được mảnh đất này.”
Cụ Hạc điều hòa nhịp thở, từ tốn dặn thêm:
“Phép dưỡng sinh của lão cốt tủy ở việc giữ tâm thanh tịnh, hơi thở thuận tự nhiên. Khi không vướng tư dục, thân thể tự an định, giác quan ắt bén nhạy trước biến thiên của đất trời. Làm kỹ thuật cũng vậy, đứng trước máy móc chớ nóng vội, hãy lắng nghe từng dao động vi mô bằng sự bình tâm sáng suốt.”
Quỳ cúi đầu thật sâu, ôm chặt tập bản thảo:
“Lời thầy dạy, con xin khắc cốt ghi tâm suốt đời!”
Đúng lúc ấy, ngoài đường mòn vang lên tiếng vó ngựa dồn dập. Cánh cổng gỗ bật mở, Lò Văn Khảm nhảy xuống từ lưng ngựa, lồng ngực vạm vỡ phập phồng vì vừa phi nước đại từ thung lũng lên. Bộ âu phục kaki Kiểm lâm trưởng của chàng trai người Thái ướt đẫm sương rừng, bên hông đeo cuốn sổ tuần rừng quen thuộc.

Bình luận chương 0
Đăng nhập để tham gia bình luận.
Đang tải bình luận…