Chỉ Đỏ Buộc Nắp Quan Ven Đầm Sen Cạn
Chương 1: Lệnh Di Dời Lúc Nửa Đêm
Tiếng đá ráp miết vào lưỡi thép ràn rạt, khô khốc và buốt lạnh như gió bấc thốc qua khe liếp. Bên ngọn đèn dầu tù mù ám muội khói, Biện Bá Cương cẩn trọng lướt ngón tay cái chai sần qua lưỡi con dao bài gia truyền. Nước thép xanh ánh lên một vệt sáng lạnh lẽo, soi tỏ gương mặt quắt thước sạm màu sương gió của người thợ bốc mộ đã ngoài năm mươi. Đêm tháng Mười một năm 1983 ở làng Sen Cạn rét buốt thấu xương. Hơi ẩm từ triền sông Đáy cuốn theo mùi bùn rữa nồng tanh phả vào tận ngưỡng cửa. Bỗng cánh liếp rung lên bần bật, kèm theo tiếng bước chân vội vã giẫm lẹp nhẹp trên ngõ đất sũng nước.
Cánh cửa liếp bật mở toang, gió lạnh ùa vào làm ngọn bấc đèn chao đảo dữ dội, chực tắt. Nguyễn Khắc Lũy xộc vào nhà, theo sau là hai dân quân xã khoác súng trường quàng chéo vai. Vị Chủ nhiệm Hợp tác xã mặc chiếc áo bông chần cổ lông màu xanh công nhân đã bạc thếch, đôi ủng cao su bết đầy đất sét non. Ông ta vừa bước qua bậu cửa đã vội vàng cài then lại, hơi thở phả ra khói trắng mù mịt, tay cầm chiếc điếu cày bọc đồng gõ mạnh xuống chõng tre: — May quá, ông Biện còn thức! Có việc hệ trọng khẩn cấp của ủy ban huyện, tôi phải thân chinh xuống tận đây đêm hôm khuya khoắt thế này.
Bá Cương không vội đáp. Bàn tay gầy guộc như cật nứa của ông vẫn chậm rãi dùng mảnh vải thô lau sạch vệt nước mài đọng trên sống dao, rồi mới ngẩng đôi mắt đục mờ nhưng sáng quắc nhìn thẳng vào vị chủ nhiệm: — Nửa đêm gà gáy, ông chủ nhiệm tìm đến nhà kẻ bốc mộ như tôi thì chỉ có chuyện mồ mả. Có việc gì mà gấp gáp đến mức không đợi nổi tới lúc rạng đông thế này?
Lũy kéo chiếc ghế đẩu lại gần, ghé sát mặt, giọng hạ thấp nhưng ráo hoác: — Lệnh khẩn từ trên huyện vừa dội xuống lúc chập tối. Mùa lũ năm tới được dự báo hung dữ bất thường, toàn xã Sen Chiểu phải dốc toàn lực đắp con đê quai vạc quấn quanh đầm sen cạn. Muốn mở rộng chân đê, bắt buộc phải di dời toàn bộ nghĩa địa Mả Bụt lên gò Nghinh Phong. Hạn chót chỉ có đúng bảy ngày!
Nói đoạn, Lũy rút từ trong túi áo ra một tờ công văn đóng dấu đỏ chót đập mạnh xuống mặt bàn, giọng dứt khoát: — Cả cái đất này chỉ có mình ông là tay nghề cự phách ba đời. Ban quản trị giao toàn quyền chỉ huy đội đào huyệt cải táng cho ông. Hợp tác xã sẽ chi trả mức công điểm cao nhất, cấp thêm năm cân thóc mỗi ngày cùng tem phiếu phụ cấp bồi dưỡng đặc biệt. Miễn sao đúng bảy ngày đêm, bãi Mả Bụt phải dọn sạch bóng mồ mả để máy ủi và dân công tiến vào!
Nghe đến hai chữ “Mả Bụt”, sống lưng Bá Cương chợt râm ran một cảm giác lạnh toát. Ông đặt con dao bài nằm ngang trên mặt bàn gỗ, lắc đầu kiên quyết: — Không được đâu, ông Lũy. Nghĩa địa Mả Bụt nằm sát mép đầm sen cạn, đất trũng phèn nặng, lại là nơi chôn cất vô số người chết đói năm Ất Dậu bốn lăm. Xương cốt nằm lẫn lộn dưới bùn sâu, vong hồn còn phiêu dạt ngút ngàn. Nay đương cữ gió mùa buốt giá, đào bới vội vã trong bảy ngày đêm là phạm vào điều đại kỵ của cõi âm. Việc sang cát cho người đã khuất phải có tuần tự, xem mạch đất, rửa cốt bằng nước vang ngũ vị đàng hoàng. Làm cẩu thả như thế, khác nào xua đuổi người chết?
Mặt Lũy thoáng biến sắc, đôi ria mép tỉa gọn giật liên hồi. Ông ta rít một hơi thuốc lào sòng sọc, nhả khói mù mịt rồi gằn giọng, lấy quyền hành ra áp chế: — Ông Biện! Bây giờ là thời đại nào rồi mà ông còn ôm giữ mấy hủ tục mê tín dị đoan ấy? Đê vỡ thì cả làng chết đói chìm trong biển nước, hoa màu mất trắng, người sống còn lo chưa xong thì giữ kẽ với người chết làm gì? Đây là nhiệm vụ chính trị sống còn của cả xã, ai cản trở là chịu kỷ luật trước tập thể!
Bá Cương chăm chú nhìn người đối diện. Dù giọng điệu vẫn hách dịch, trịch thượng như thường ngày, nhưng ánh mắt ti hí của Lũy lại đảo quanh liên tục, hai bàn tay ôm thân điếu cày cứ run rẩy không giấu giếm được. Trong đáy mắt kẻ đứng đầu hợp tác xã ẩn chứa một nỗi bồn chồn toan tính đến kỳ lạ, giống như đang sợ hãi một điều gì đó bị chôn vùi dưới bùn lầy Mả Bụt hơn là sợ con nước lũ tháng Năm.
Ký ức mơ hồ về người cha quá cố bỗng dội về trong tâm trí Bá Cương. Trước lúc lâm chung, cha từng cầm tay ông run rẩy căn dặn về món nợ ân nghĩa và những oan hồn u uất chưa tan nơi bãi Mả Bụt từ nạn đói năm xưa: “Nghề bốc mả sát khí nặng nề, muốn tích đức giải nghiệp truyền đời thì phải nhớ lấy câu ‘trọng người khuất, sạch lòng tham’. Người ta vì đói rách oan ức mà chết vùi ven đầm, mình không lo chu toàn cho họ thì chẳng còn ai đoái hoài nữa đâu con...”.
Bá Cương hiểu rất rõ, nếu ông dứt khoát từ chối, Lũy sẽ sai đám thanh niên dân công thiếu kinh nghiệm dùng cuốc xẻng bới tung bãi tha ma. Khi ấy, hài cốt tiền nhân sẽ bị băm nát, mồ mả vô thừa nhận sẽ bị vùi dập bừa bãi xuống dòng sông Đáy, tạo thêm nghiệt oán trùng trùng.
Nén một tiếng thở dài trĩu nặng, Bá Cương trầm giọng: — Thôi được. Tôi nhận việc này. Nhưng tôi có một điều kiện: toàn bộ việc khai huyệt, nhặt cốt, sang cát phải do chính tay đội thợ của tôi định đoạt theo phép tắc nhà nghề, người ngoài tuyệt đối không được can thiệp bừa bãi.
Lũy thở phào ra một hơi dài thượt, nét mặt giãn ra đôi chút: — Được! Miễn sao dọn xong đúng hạn cho tôi là được!
Chờ bóng Lũy cùng hai người dân quân khuất sau rặng tre ngoài ngõ, Bá Cương quay vào gian trong, cất tiếng gọi trầm ấm: — Anh Thảo, dậy đi con.
Biện Văn Thảo, chàng thanh niên hai mươi hai tuổi vạm vỡ, bước ra từ sau bức mành nứa. Cậu đã thức từ lúc nghe tiếng đập cửa, đôi mắt sáng lộ rõ vẻ âu lo: — Thầy... Đêm đông buốt giá thế này mà phải bốc cả nghĩa địa Mả Bụt sao thầy? Con nghe các cụ trong làng đồn đất ấy dữ lắm, trước kia chôn toàn người chết đói côi cút...
— Đừng nói gở, — Bá Cương nghiêm giọng răn dạy. — Người ta khuất núi đã chịu muôn phần tủi nhục, mình có cơ duyên đưa họ về nơi cao ráo ấm cúng thì đó là việc phúc đức. Mau sang xóm Đông gọi anh Khoái với anh Dần sang đây. Bảo hai đứa mang theo cuốc bàn, ky cót, rồi xuống bếp nổi lửa đun sẵn một nồi nước lá quế, sả tươi với gừng già. Đêm nay, chúng ta ra điếm canh chuẩn bị đồ lề.
Gần canh ba, bốn bóng người lặng lẽ khoác áo tơi lá gồi, khiêng bồ đài, đòn xóc và nồi nước vang tiến về phía điếm canh đê số 4 ven đầm. Gian nhà gạch cũ kỹ tróc lở từng mảng vôi, bên trong ẩm ướt nồng nặc mùi mốc rêu và hơi lạnh từ bãi tha ma phả lại. Sau khi sắp xếp xong mấy chục chiếc tiểu sành da lươn ngay ngắn sát vách tường, Bá Cương bảo ba người thợ ngồi lại sưởi ấm bên bếp than hồng.
Ông bước một mình ra khỏi cửa điếm canh, đứng tựa lưng vào chân đê nhìn xuống lòng đầm sen cạn. Mặt đầm mênh mông mùa đông khô cạn đáy, trơ trọi hàng ngàn cọng sen khô queo quắt, khẳng khiu như những cánh tay xương xẩu của cõi âm đang vươn lên cào xé nền trời xám xịt. Sương muối giăng mờ mịt, quấn lấy những nấm mồ đất nhấp nhô nơi bãi Mả Bụt.
Bá Cương vừa phóng tầm mắt qua đầm sen cạn mù sương, một đàn quạ đen từ rặng duối già bỗng đập cánh bay rợp trời, cất tiếng kêu tang tóc xé toạc màn đêm tĩnh mịch.

Bình luận chương 0
Đăng nhập để tham gia bình luận.
Đang tải bình luận…