Chỉ Đỏ Buộc Nắp Quan Ven Đầm Sen Cạn
Chương 2: Đốt Lửa Khai Huyệt Mả Bụt
Tiếng quạ quàng quạc ma quái chìm dần vào bóng tối mịt mùng phía rặng duối cằn, nhường chỗ cho tiếng gió bấc rít từng hồi buốt lạnh. Đứng chôn chân bên triền đê, Bá Cương đưa bàn tay thô ráp vuốt giọt sương muối đọng trên cằm, đôi mắt nheo lại nhìn chằm chằm xuống khoảng không đen đặc của đầm sen cạn. Linh tính của người làm nghề đào huyệt ba đời mách bảo ông rằng bãi Mả Bụt này ẩn chứa những điều dữ dằn hơn nhiều so với vẻ hoang phế bên ngoài.
Quay vào điếm canh số 4, Bá Cương thấy Thảo cùng hai thợ phụ xóm Đông đang ngồi co ro bên bếp than hồng. Ngọn lửa liu riu hắt vệt sáng đỏ bầm lên những chiếc tiểu sành da lươn xếp dọc chân tường. Anh Khoái và anh Dần mặt mày tái mét, hai hàm răng va vào nhau lập cập vì lạnh.
Bá Cương nhìn tuần trăng mờ khuất sau tầng mây xám, cất giọng trầm đục: — Đã sang giờ Tý. Canh ba gió chuyển, chuẩn bị đồ lề ra bãi thôi.
Ông rút từ tay nải củ gừng già, phạt thành từng lát dày đưa cho ba người: — Mỗi người ngậm chặt một lát dưới cuống lưỡi. Đất Mả Bụt ẩm phèn, tử khí và hàn độc tích tụ dưới bùn rất nặng. Ngậm gừng để giữ ấm tạng phủ, ngăn uế khí xộc vào người.
Đợi ba người thợ đặt lát gừng cay nồng vào khoang miệng, Bá Cương nghiêm giọng dặn dò: — Xuống bãi, tuyệt đối theo đúng phép tắc nhà nghề. Thứ nhất, miệng ngậm gừng, cấm ai gọi tên nhau hú họa giữa đêm đen. Thứ hai, khi đào đất, chân chỉ đứng trên vạt đất đầu huyệt, cấm giẫm lên bờ huyệt đối diện kẻo đè phải linh khí người nằm dưới. Thứ ba, dù thấy vàng bạc hay đồ tùy táng gì, cũng phải rửa sạch bằng nước vang rồi đặt trọn vào lòng tiểu cùng hài cốt. Ai tơ hào nửa xu của cõi âm, nghiệp báo quật không kịp ngáp. Đã rõ chưa?
— Thầy yên tâm, con ghi nhớ từng lời rồi, — Thảo gật đầu quả quyết. — Vâng, bác Biện cứ răn dạy, anh em chúng cháu răm rắp theo, — anh Khoái run giọng đáp.
Bá Cương nhóm lửa vào ngọn đèn chai tù mù che mảnh thiếc chắn gió. Thảo cùng anh Dần khiêng nồi nước vang ngũ vị nấu từ quế, hồi, đinh hương, sả và gừng già đang sôi sùng sục, mùi cay thơm ấm áp phả ra xua bớt cái rét căm căm. Bốn bóng người lặng lẽ khoác áo tơi lá gồi, nối gót nhau tiến xuống bãi Mả Bụt.
Mùa đông, đầm sen cạn kiệt, trơ trọi gốc sen khô queo quắt khẳng khiu cào lên trời xám. Gió bấc rít qua kẽ sậy nghe như tiếng ai oán thở than. Bãi tha ma Mả Bụt mấp mô hàng trăm nấm mồ đất phủ đầy cỏ gai héo úa. Khí lạnh từ lòng đất ẩm bốc lên ngột ngạt, tanh nồng mùi bùn hôi lẫn tử khí mục ruỗng.
Dừng chân tại gò đất cao đầu bãi, Bá Cương bày mâm lễ đơn sơ gồm bát gạo, bông hoa cúc, đĩa muối hạt, ba nén hương trầm và chén rượu trắng. Ông quỳ hai gối xuống lớp cỏ đẫm sương, úp hai bàn tay xuống đất khấn lầm rầm: — Kính lạy Hoàng thiên Hậu thổ, Thổ thần long mạch cai quản Mả Bụt. Chúng con là phường thợ sang cát, vâng lệnh đắp đê ngăn lũ cứu làng mà cất mả dời cốt. Xin các đấng thần linh và chư vị hương hồn côi cút xá tội kinh động. Đưa người khuất mặt về gò Nghinh Phong phong quang ấm áp, cúi xin phù hộ cho việc đào xới được êm xuôi, mồ yên mả đẹp...
Khấn xong, Bá Cương tưới rượu quanh mô đất, vốc nắm gạo trộn muối rắc thành hình cánh cung ngăn cách bãi đào với đầm hoang. Ông đứng dậy, cầm cuốc bàn chỉ vào bốn nấm đất nhỏ nằm kề nhau: — Bốn ngôi này là của họ Bùi gửi tạm từ trận lụt năm Thìn, đất xốp ráo nước. Khai huyệt ở đây trước!
Thảo, Khoái và Dần lập tức vung cuốc bới đất. Lưỡi thép xắn vào lớp phù sa gan gà mềm ẩm. Bá Cương quỳ mép huyệt, chăm chú dõi theo. Chạm đến lớp ván thiên mục nát phát tiếng “bộp” ục nước, ông ra hiệu dừng tay.
Bá Cương dùng dao bài nạy từng thớ gỗ mục như xơ mướp. Hài cốt người xưa ngả màu vàng sẫm tiêu thảo. Ông múc nước vang thơm tưới nhẹ gột rửa bùn đất, rồi tỉ mỉ nhặt từng đốt xương từ ngón chân, ống chân, xương chậu, xương sườn đến xương sọ. Từng mẩu xương sạch sẽ được xếp lên tấm vải điều đỏ thắm dưới đáy chiếc tiểu sành da lươn. Động tác của Bá Cương thuần thục, trang nghiêm. Bốn cỗ quan đất đầu tiên được sang cát êm thấm, đậy nắp niêm phong cẩn thận trước khi canh ba tàn lụi.
Khoái và Dần thở phào nhẹ nhõm, nhưng ánh mắt Bá Cương vẫn trĩu nặng âu lo. Bốn ngôi mộ dòng họ chỉ là phần việc dễ trên đất cạn. Phía trước, nơi mép đầm sen cạn, bóng tối mịt mùng đang che giấu những nấm mồ hoang vô thừa nhận.
— Uống hớp nước gừng ấm rồi đi tiếp, — Bá Cương trầm ngâm dặn.
Sau tuần nước, ông xách đèn chai dẫn cả đội tiến sâu xuống mép nước. Bùn lầy lún ngập mắt cá chân, mùi rơm rạ mục và nước ứ nồng nặc đến nghẹt thở. Gió từ sông Đáy thốc ngược qua đầm rét buốt như kim châm.
Dưới ánh đèn leo lét, một gò đất thấp lè tè hiện ra giữa bãi sình. Gò đất méo mó, xung quanh bị rễ sen già và cỏ may gai góc bọc kín mít. Lạ lùng thay, cỏ may trên gò héo rũ, ngả màu đen thẫm bất thường, đất bùn bết dính như sáp ong.
Bá Cương dừng sững trước nấm đất hoang. Lưng áo ông lạnh toát, ruột gan bỗng cồn cào. Mùi tanh lợm không giống bùn đất thông thường mà như mùi mủ rỉ từ vết thương thối rữa thoang thoảng bay lên.
— Nấm mồ này... không có trong địa bạ của xã, — Thảo soi đèn lại gần, giọng ngập ngừng. — Cỏ may khô cháy đen sì thế này, lạ quá thầy ạ.
— Đừng nói gở, — Bá Cương nạt khẽ, bàn tay nắm cán mai sắt siết chặt đến trắng bệch.
Ông cúi người, lấy mũi dao bài gạt lớp cỏ may dập nát. Dưới lớp cỏ, bùn đen sủi lên vài bọt nước lách tách, phả ra luồng khí buốt thấu xương khiến ông giật mình lùi lại nửa bước. Đây đích thị là mồ chôn nạn đói năm Ất Dậu, nhưng bị vùi ở nơi trũng nhất của đầm sen, gần như dìm xuống bùn sâu chứ chẳng phải an táng.
Hít sâu một hơi để định thần, Bá Cương giơ cao chiếc mai rèn bằng thép nhíp, dồn lực bập mạnh xuống lớp bùn quánh đặc. Vừa cắm lưỡi mai xuống lòng đất ẩm ướt của gò vô danh, tay Bá Cương bỗng run lên bần bật khi cán sắt dội ngược trở lại kèm theo tiếng kêu khô khốc như chém trúng kim loại lạnh ngắt.

Bình luận chương 0
Đăng nhập để tham gia bình luận.
Đang tải bình luận…