Chiếc Loa Tôn Rè Cười Nghiêng Con Phố
Chương 3: Thức Tỉnh Ba Cái Nón Rỉ
Cụ Cao Khắc Đạt ngửa cổ nhìn trân trân lên ngọn cây cột điện bê tông xám xịt đứng sừng sững ở ngã ba ngõ. Giữa làn gió bấc buốt rát của buổi sớm mùa đông, ba chiếc loa tôn hình nón chụm lưng vào nhau, phủ một lớp rỉ sét nâu sẫm như ba cái nón rách của lão ăn mày treo lơ lửng giữa trời. Chúng đã câm lặng suốt hai mươi năm ròng, trơ trơ dãi dầu cùng năm tháng kể từ ngày đường dây truyền thanh huyện bàn giao lại cho phường rồi chìm vào quên lãng.
“Bác Đạt ơi! May quá, bác vẫn còn đứng đây!”
Tiếng dép lê loẹt xoẹt kèm theo giọng thở hổn hển kéo cụ Đạt về thực tại. Ông Thịnh, tổ trưởng tổ dân phố khu tập thể Cơ Khí Ánh Sao, khoác chiếc áo gió sột soạt đang hớt hải chạy lại gần.
Cụ Đạt quay sang, nheo mắt cười hóm hỉnh:
“Có chuyện gì mà chú Thịnh chạy như bị chủ nợ đuổi thế?”
“Khổ lắm bác ạ!” Ông Thịnh đưa tay chỉ lên ngọn cột điện, vừa thở vừa phân trần, “Dạo này gió mùa đông bắc về giật đùng đùng, mấy cái móc sắt treo ba cái loa tôn rỉ ngoèn trên kia cứ đung đưa bần bật. Sáng nay bà bán bánh rán đi ngang qua ngã ba, một mẩu tôn mục rơi trúng vành nón lá làm bà ấy khiếp vía, sang tận nhà em làm ầm lên. Ban quản lý ngõ bàn nhau tính gọi đồng nát vào giật xuống, nhưng dây điện nhằng nhịt quá, chẳng ai dám bén mảng. Nghĩ đi nghĩ lại, chỉ có bác là cựu thợ máy truyền thanh tay nghề cừ khôi mới xử lý êm thấm được. Bác trèo lên tháo dỡ giùm xóm với, chứ để nó rơi trúng đầu người qua lại thì mang họa!”
Cụ Đạt đưa ngón tay gầy miết nhẹ gọng kính lão đồi mồi buộc dây dù, ngước nhìn ba cái nón tôn lần nữa rồi gật gù:
“Ba cái loa ấy nằm đấy từ năm hai nghìn lẻ bốn, kể cũng tròn hai mươi năm làm bạn với gió sương. Được rồi, chú cứ yên tâm về đi, để tôi về lấy đồ nghề rồi trèo lên hạ nó xuống cho an toàn.”
Ông Thịnh mừng rỡ cảm ơn rối rít rồi rảo bước về nhà chuẩn bị đi làm.
Cụ Đạt quay về căn gác nhỏ ở tầng hai, với tay lấy chiếc áo ghi lê kaki bốn túi đã sờn mép khoác lên người. Bốn chiếc túi hộp sâu hoắm lập tức được nhét đầy đồ nghề quen thuộc: chiếc kìm bấm mỏ nhọn, chiếc cờ-lê mười hai bóng loáng vì mồ hôi tay, cuộn dây dù bền chắc và mẩu tuốc nơ vít dẹt. Cụ bước xuống sân chung, đi vòng ra gầm cầu thang kéo cây thang tre dài ngoằng đã lên nước bóng lẫy của khu tập thể ra ngoài.
Dáng người gầy guộc nhưng lưng thẳng tắp, cụ Đạt vác chiếc thang tre trên vai bước thoăn thoắt ra ngã ba ngõ trước sự tò mò của bà con chòm xóm.
Dưới gốc bàng già, bà Hảo đang hí hửng xách chiếc thau nhôm sáng loáng vừa được tặng đứng khoe với mấy bà bạn già. Thấy cụ Đạt vác thang đi qua, bà cất giọng choang choảng:
“Bác Đạt vác thang đi đâu đấy? Già rồi còn trèo leo, khéo ngã còng queo cái lưng thì khổ!”
Phía bên kia khoảng sân xi măng nứt nẻ, ông Bính đang dắt con chó phốc Bút Bi đi dạo, thấy cảnh tượng ấy cũng đứng lại khịt mũi, giọng đanh thép bắt bẻ:
“Căn cứ theo quy định an toàn lao động, người cao tuổi không được tự ý trèo cao nơi công cộng! Bác Đạt làm thế là thiếu ý thức trật tự đô thị đấy!”
Con Bút Bi được đà sủa nhặng xị vài tiếng the thé ăn theo chủ. Cụ Đạt chẳng buồn ngoái lại, chỉ cười khà một tiếng:
“Tôi đi tháo mấy cái của nợ treo đầu ngõ, kẻo gió giật rơi trúng quả đầu hói của ông nào thì lại bảo tại số!”
Ông Bính giật thót mình, vội vàng đưa bàn tay béo múp xoa xoa mấy sợi tóc dài vắt ngang trán, hậm hực dắt con Bút Bi đi thẳng một mạch.
Đến chân cột điện bê tông sứt mẻ ở ngã ba ngõ, cụ Đạt dựng thẳng cây thang tre, cẩn thận dùng đoạn dây dù buộc chặt chân thang vào thanh cọc sắt chống trộm phía dưới. Thử độ nhún chắc chắn xong, cụ thoăn thoắt leo lên từng bậc tre kêu cọt kẹt quen thuộc.
Gió bấc cuối đông trên cao thổi lồng lộng, thốc vào vạt áo ghi lê kaki lành lạnh. Càng lên sát đỉnh cột, mùi kim loại hoen gỉ càng xộc vào sống mũi. Ba chiếc loa tôn chụm vào nhau trên một khung sắt tam giác rỉ sét. Lớp sơn men xanh thuở nào đã bong tróc nham nhở, để lộ màu xám xịt của tôn tráng kẽm dãi dầu hai mươi mùa mưa nắng.
Cụ Đạt thò bàn tay chai sạn sờ vào miệng chiếc loa chĩa về phía cổng ngõ. Lòng loa tối om bỗng cộm lên một khối mềm xốp. Cụ rút chiếc kìm bấm khẽ khều ra, nhận ra đó là một búi rơm khô, lá bàng mục và lông vũ ken đặc thành hình tròn xoe. Thì ra bấy lâu nay, miệng loa đã thành tổ ấm cúng cho mấy lứa chim sẻ ngõ nhỏ trú ngụ qua mùa đông buốt giá.
Sau khi tỉ mẩn gắp sạch rơm rác bít kín họng loa, cụ Đạt ngắm nghía củ nam châm phía sau. Kỳ lạ thay, củ loa gang đúc do Liên Xô sản xuất vẫn bám chặt cứng vào giá đỡ, nặng trịch và trơ trơ như đá tảng. Cụ búng nhẹ ngón tay vào vành tôn, một tiếng “ong” đanh gọn ngân vang. Cụ Đạt khẽ lẩm bẩm trong miệng:

Bình luận chương 0
Đăng nhập để tham gia bình luận.
Đang tải bình luận…