Chõ Nồi Hấp Lá Thuốc Đánh Bạt Khí Lạnh Đầm Lầy

Chương 1: Tỉnh Giấc Bên Rìa Đầm Lầy

Một cơn ho sặc sụa kéo Kim Trọng Khiêm bừng tỉnh khỏi cơn mê dài đặc quánh.

Không có tiếng bíp đơn điệu của chiếc máy theo dõi nhịp tim nơi buồng bệnh cấp cứu hiện đại, cũng chẳng có mùi cồn sát trùng nồng nặc quen thuộc của kiếp sống chín mươi tư năm cống hiến trọn vẹn cho ngành dịch tễ học. Xộc thẳng vào cánh mũi của ông lúc này là mùi ẩm mốc ngai ngái của mái lá dầm mưa lâu ngày, quyện chặt với hơi bùn tanh tưởi bốc lên từ lòng đất lạnh và vị khói củi cay xè nơi khóe mắt.

Kim Trọng Khiêm khẽ giơ bàn tay lên trước tầm mắt lờ mờ. Bàn tay gầy guộc, những khớp ngón thô kệch chằng chịt gân xanh và đốm đồi mồi sạm đen, mười đầu móng tay còn hằn đậm dấu vết cáu bẩn của nhựa lá tràm cùng đất phèn chưa kịp rửa sạch. Một luồng ký ức xa lạ nhưng gắn kết sâu sắc tức thì dội ngược vào tâm thức: thân xác cửu thập suy kiệt nơi giường bệnh thời hiện đại đã tan biến. Giờ đây, ông đã tái sinh trọn vẹn vào thân xác Cụ Ba Khiêm — một ông già bốc thuốc nam sáu mươi tám tuổi, sống thui thủi đơn độc trong căn chòi lá xiêu vẹo cắm cọc bên bờ Cù Lao Cỏ Cháy, kẹp giữa dòng sông Cái Lớn cuồn cuộn phù sa và rìa đầm lầy U Minh Hạ ngút ngàn.

Mùa mưa năm Canh Thân 1920 đang đổ xuống chốn bạt ngàn lau sậy này những đợt nước ngập trắng đồng.

Cụ Ba chống tay gượng ngồi dậy trên chiếc phản gỗ tạp ọp ẹp. Cả khung xương già nua rệu rã phát ra những tiếng kêu răn rắc. Một luồng gió chướng từ mé sông thốc mạnh qua khe liếp nứa mục nát, mang theo hơi sình lầy ẩm buốt thấu xương làm ngọn đèn dầu lù mù nơi góc cột chao đảo dữ dội. Cái lạnh của đầm lầy U Minh Hạ vào mùa mưa dầm không giống cái rét khô hanh miền Bắc; nó là thứ khí lạnh ẩm ướt bão hòa, bết dính vào da thịt, ngấm sâu vào từng thớ cơ và buốt tận tủy sống.

Ròng rã nửa tháng qua, mưa tầm tã không ngớt một ngày làm bốn mươi hai nóc chòi lá nghèo xơ xác trên cù lao chìm trong cảnh ngập úng. Nước kênh rạch vừa ngầu đục phù sa vừa nhiễm phèn chua đót, rác rưởi thối rữa đọng lại khắp các gốc bần, bụi cóc kèn. Từng đàn muỗi đòn xóc cùng muỗi mắt sinh sôi ken đặc như trấu vãi, mang theo mầm mống chứng “ngã nước” ác tính làm người bệnh run rẩy bần bật giữa ban trưa rồi tiểu ra nước đen chết dần chết mòn. Đi kèm với đó, hơi ẩm lạnh độc địa còn kích phát dịch ho sốt nghẽn đờm, bóp nghẹt đường thở của bao đứa trẻ nhỏ.

Cụ Ba cất bước chậm rãi nhưng vững vàng đến mé vách nứa. Dưới ánh sáng lờ nhờ xám xịt của một buổi sớm mưa dầm, tài sản cứu người của cụ chỉ vỏn vẹn vài bó ngải cứu treo ngược đã khô quắt, mấy củ gừng gió teo tóp nằm lăn lóc nơi đáy rổ tre mốc thếch, một nắm sả khô xơ xác và mớ rễ tràm dại cằn cỗi.

Là một người dành cả đời nghiên cứu dịch bệnh chốn nhân gian, nhìn mớ cây cỏ mộc mạc đến xót lòng ấy, cụ Ba không khỏi trĩu nặng ruột gan. Không một bóng dáng thuốc men Tây học, không một viên ký-ninh dằn cơn sốt rét, dân nghèo cù lao hoàn toàn trơ trọi giữa thiên nhiên khắc nghiệt. Nhưng đôi mắt sáng quắc sau hàng chân mày bạc phơ vẫn ánh lên ngọn lửa kiên nghị sắt đá. Trời cao đã ban cho già này cơ hội mở mắt thêm một lần nữa ở kiếp này, thì dẫu chỉ còn nắm lá rừng và vắt đất nung, cụ cũng quyết không để đồng bào mình buông tay chịu chết.

Bõm... bõm... bõm!

Tiếng quạt nước gấp gáp, dồn dập từ dưới mé rạch bỗng xé toạc tiếng mưa rào rạt, kèm theo đó là tiếng gào khóc ai oán, đứt quãng của đàn bà:

— Cụ Ba ơi! Cứu mạng con tôi với Cụ Ba ơi! Con Út Lành nó tắc thở rồi... Trời đất ơi là trời!

Tiếng kêu xé ruột xé gan khiến cụ Ba giật mình. Cụ với chiếc khăn rằn sờn rách quấn chặt lên cổ, kéo thẳng lại vạt áo bà ba đen rồi bước vội ra ngưỡng cửa chòi lá.

Màn mưa trắng xóa giăng kín mặt sông Cái Lớn. Gió thốc từng cơn làm nghiêng ngả những rặng dừa nước ven bờ. Dưới mé bến trơn tuột, một chiếc xuồng ba lá cũ nát vừa đâm sầm vào búi rễ đước chằng chịt. Thím Năm Lệ mình mẩy ướt sũng, gương mặt gầy guộc sạm nắng bùn lầy không còn một giọt máu, hai hốc mắt trũng sâu hoảng loạn tột cùng. Chiếc khăn mỏ quạ nâu trên đầu thím ướt đẫm, dính chặt vào vầng trán nhăn nheo khắc khổ. Thím ôm chặt một bọc chiếu rách tả tơi trước ngực, vừa lảo đảo lội qua lớp bùn ngập ngang bắp chân vừa khóc không thành tiếng.

Trong manh chiếu rách tả tơi ấy, bé Út Lành tám tuổi nhỏ thó như một cọng sậy khô cằn, đầu ngoẹo sang một bên, đôi môi nứt nẻ khô khốc tím tái bầm dập. Lồng ngực con bé co giật từng cơn dữ dội, thắt lõm sâu hoắm sau mỗi nhịp thở rít khè khè nghẹn ứ, tưởng chừng như chỉ một hơi thở nữa thôi là sợi dây sinh mệnh mỏng manh sẽ đứt lìa.

Chưa đợi người mẹ bước tới mé sân, một bóng người gầy nhẳng nhưng săn chắc từ mũi xuồng đã lao vút lên trước. Thằng Bảy Đước trần trùng trục, độc một chiếc quần cộc nâu xắn ngang gối, nước da đen giòn như thân đước ngâm phèn sũng nước mưa. Đôi chân trần của cậu thiếu niên trượt mạnh trên bờ bùn non trơn trợt, ngã sóng soài dúi dụi ra phía trước.

Đăng nhập để thả tim Đăng nhập để tương tác

Ủng hộ tác giả Linh Linh
Mỗi lời động viên là động lực để tác giả tiếp tục sáng tác.

Linh Linh

Tác giả của câu chuyện này · Hãy cùng ủng hộ những chương tiếp theo.

Đăng nhập để theo dõi

Bình luận chương 0

Đăng nhập để tham gia bình luận.

Đang tải bình luận…