Chum Mắm Ruốc Đổi Màu Cuối Ngõ Hẻm
Chương 23: Chum Mắm Đổi Màu
Ba tháng trôi qua kể từ buổi sáng rộn rã tiếng vỗ tay dưới vòm lá trứng cá và cái siết tay ấm áp giữa muôn ánh đèn máy ảnh.
Đoạn đầu hẻm 47 giáp đường Phan Văn Trị đã mang diện mạo mới. Mười lăm mét lộ giới mở rộng khang trang, mặt đường trải nhựa phẳng lì sau những ngày thi công khẩn trương. Ba căn nhà đầu ngõ đã nhường chỗ cho vỉa hè mới; số tiền đền bù thỏa đáng giúp mẹ con chị Bông an cư gần chợ Cây Quéo, tiếp tục mưu sinh bên xe bánh mì quen thuộc. Điều quý giá nhất là từ hộ số 5 trở vào, con hẻm vẫn vẹn nguyên nếp sống cũ. Từng bức tường rêu phong, ô cửa bạc màu và khoảng sân chung dưới tàn cây trứng cá già đều được giữ lại trọn vẹn. Theo phương án của quận, khoảng sân ấy giờ trở thành điểm ẩm thực cộng đồng thí điểm do cư dân tự quản. Cuối tuần nào thực khách khắp nơi cũng tìm về con hẻm nhỏ, háo hức thưởng thức từng món ăn dân dã thấm đượm phong vị Huế nguyên bản.
Đúng bốn giờ sáng.
Diễm Phụng thức giấc theo thói quen bao năm. Gian bếp trệt nhà số 9 chìm trong làn sương sớm lành lạnh, nhưng không còn vây bọc bởi sự quạnh quẽ lầm lũi của hai mươi mùa đông một mình góa bụa. Trên căn gác lửng, tiếng ván gỗ khẽ kẽo kẹt, rồi bóng dáng quen thuộc nhẹ nhàng bước xuống cầu thang.
Là Hạnh.
Suốt ba tháng qua, cứ chiều thứ Sáu, con Hạnh lại thu xếp xong công việc kế toán ở Hà Nội rồi đáp chuyến bay đêm về Sài Gòn. Đến sáng thứ Hai, cô mới trở lại sân bay. Hai ngày cuối tuần được cô dành trọn để ở bên mẹ, cởi bỏ bộ âu phục công sở để mặc vào chiếc áo bà ba cũ, chuyên tâm học từng bước làm mắm.
“Dậy chi sớm rứa, con Hạnh? Gió ngoài sân còn lạnh lắm, lên gác chợp mắt thêm chút nữa đi,” bà Phụng cất giọng Huế trầm ấm, bàn tay to bản với những khớp ngón gồ ghề khẽ vén lọn tóc mai vương trên trán con gái.
Hạnh mỉm cười, đôi mắt sáng ngời dưới ánh đèn vàng:
“Con quen giấc rồi mẹ. Hôm nay mở chum mới, con nôn nao không ngủ tiếp được mô.”
Bà Phụng khẽ cười trước cái đuôi từ xứ Huế vụng về mà con gái cố tập. Bà quay lại góc bếp thân thuộc. Nơi ấy, chiếc chum sành đen bóng to bằng nửa người vẫn lặng lẽ ngự trị từ năm 1991, vững chãi như một chứng nhân cùng bà đi qua bao thăng trầm dâu bể.
Bà bước đến gần, khum hai tay cẩn trọng nhấc chiếc nắp sành nặng trịch.
Hơi men đặc sánh lập tức lan tỏa khắp gian bếp. Không còn hơi nồng gắt của mẻ tép moi mới muối thuở ban đầu, cũng không còn thứ mùi hăng nồng từng khiến con gái bà phải lảng tránh thời thơ ấu. Thay vào đó là hương thơm ngậy đượm đà, sâu lắng và ngọt hậu như chắt chiu tất cả mặn mòi của biển khơi cùng nắng gió phương Nam.
Bà Phụng cầm chiếc đèn pin nhỏ soi vào lòng chum.
Tròn mười tám tháng ủ chượp theo tỷ lệ ba phần tôm đất một phần muối hạt thô, mẻ mắm ruốc đã hoàn tất hành trình thầm lặng của mình. Từ sắc đỏ tươi thuở mới muối, chuyển dần sang đỏ sậm, rồi tím than, giờ đây toàn bộ bề mặt mắm đã ngả trọn vẹn sang màu nâu ánh tía mịn màng và óng ả. Đó là thứ sắc màu trầm mặc, chỉ xuất hiện khi từng thớ tép moi đã ngấu trọn vị muối và đạt tới độ chín hoàn mỹ nhất.
“Mắm chín rồi con Hạnh tề,” bà Phụng khẽ nói, ánh mắt lấp lánh niềm vui.
Hạnh ghé sát nhìn vào, khẽ xuýt xoa:
“Màu đẹp quá mẹ ơi... Ánh lên như mật tía vậy.”
Bà Phụng lấy chiếc đũa cả gỗ đã ngả màu bóng sẫm trên giá chạn bát. Chiếc đũa cả này mẹ bà — chị Ba Thơm — trao lại ngày bà rời Huế vào Nam năm 1986. Suốt ba mươi tám năm qua, đôi tay bà đã cầm nó khuấy từng mẻ mắm để chắt chiu nuôi con ăn học. Nhưng sáng nay, bà không cắm đũa xuống chum như lệ thường.
Bà quay sang, chìa chiếc đũa cả về phía Hạnh:

Bình luận chương 0
Đăng nhập để tham gia bình luận.
Đang tải bình luận…