Dây Thừng Xơ Dừa Khóa Chặt Vực Hắc Long
Chương 3: Mảnh Xơ Dừa Phơi Nắng
Gió cuốn cát bụi mịt mù từ ngả miệng vực dội về, kèm theo tiếng nổ rền rĩ và ánh chớp đen ngòm xé rách vòm trời phương bắc. Tiếng chuông đồng trên vọng gác trấn Vạn Thừng vẫn đổ từng hồi dồn dập, giục giã bước chân của những đoàn người đang dắt díu nhau chạy loạn.
Tịch Uyển Nhi buông vội chiếc chày gỗ ổi, lanh lẹ gom từng cuộn thừng xơ dừa còn đượm mùi bùn ngấu đặt lên giàn tre phơi nắng. Tấm tạp dề da nhuộm chát trước ngực nàng đã lấm lem bùn đất, nhưng đôi tay nhỏ nhắn vẫn thoăn thoắt xếp từng tao thừng ngay ngắn. Thấy mấy người thợ trẻ ở phường dệt chiếu kế bên đang quýnh quáng làm rơi cả đòn gánh, mặt cắt không còn hột máu, nàng liền cất giọng giòn giã:
“Các anh đừng hoảng! Cứ khiêng hết các nong xơ dừa vào chái bếp che bạt lại đã. Đất chấn động chứ rặng dừa chắn gió đầu làng vẫn chưa lay, chạy tán loạn chỉ tổ giẫm đạp lên nhau thôi!”
Lời nhắc nhở dứt khoát của cô thiếu nữ mười sáu tuổi khiến đám thanh niên trấn tĩnh lại phần nào. Họ vội vã phụ nhau chuyển từng kiện hàng vào nơi khuất gió rồi mới hòa vào dòng người di tản.
Uyển Nhi hít một hơi sâu. Nàng khẽ ngồi thụp xuống mép sân, tháo đôi guốc mộc, áp chặt hai bàn tay trần cùng đôi chân nhỏ xuống nền đất nện ẩm ướt. Từ thuở bé, khi được ông nội nhặt về từ đầm lầy đúng mùa hoa dừa nở ngàn năm, nàng đã có thể cảm nhận được hơi thở sâu kín của đất mẹ và mạch nước ngầm.
Nhắm nghiền đôi mắt, nàng nín thở lắng nghe.
Sâu dưới lớp đất thịt dày hàng chục trượng, nàng nghe thấy một dòng khí đen giá buốt, tanh nồng mùi rỉ sắt đang cuồn cuộn bò lan từ Vực Hắc Long sang, toan xâm lấn vào nguồn nước ngã ba sông Chát. Thế nhưng, ngay trước khi làn trướng khí độc địa ấy kịp chạm tới dòng chảy ngầm của thị trấn, hàng vạn rễ dừa nước đan bện chằng chịt dưới đáy bùn đã đồng loạt cựa mình. Những rễ dừa già nua, đen nhánh vì ngậm no bùn khoáng chát ngắt, tỏa ra từng luồng sinh khí thảo mộc dẻo dai, âm thầm bọc lấy dòng nước ngọt, ngăn không cho ma khí thực kim thấm sâu vào lòng đất.
Uyển Nhi mở mắt, thở phào một tiếng, quay sang cụ Tịch Hoài Nhơn đang ngồi bên mép sân:
“Ông nội ơi, rễ rừng dừa mẹ dưới đầm lầy vẫn đang cản được khí độc ngấm vào nước ngầm. Sông Chát của mình chưa bị ô uế đâu!”
Cụ Tịch ngẩng đầu lên, chòm râu bạc khẽ rung theo nụ cười hiền hậu. Cụ vẫn ung dung vê tròn một mối nối thừng, giọng trầm ấm:
“Cây dừa nước mọc nơi đầu sóng ngọn gió, rễ bám sâu ba tầng bùn mặn, há dễ để chút tanh tao làm vẩn đục. Có điều, trên mặt đất thì phong ba đã đến sát ngõ rồi.”
Vừa dứt lời, từ đầu ngõ đất đỏ hướng về phía bờ vực bỗng vang lên tiếng bước chân loạng choạng. Một bóng người xiêu vẹo rẽ qua bụi dừa dại, tay ôm ngực, vừa ho khẽ vừa gượng bước tới. Đó là một thiếu niên tu sĩ trạc hăm hai tuổi, khoác đạo bào xám tro tơi tả, lưng mang vỏ kiếm trơ trọi. Trong tay chàng chỉ còn lại một mẩu chuôi kiếm sứt mẻ gãy vụn, mặt thép xỉn màu vì những mảng rỉ sét đỏ quạch.
Nhìn sắc mặt chàng tái nhợt, môi thâm tím, cổ tay áo rách bươm ám một làn khí đen buốt lạnh, Uyển Nhi đoán chừng người này vừa trải qua một phen thập tử nhất sinh nơi bờ vực trở về.
Thẩm Triệt tựa lưng vào cổng tre, ngước nhìn hai ông cháu vẫn thản nhiên giữa đống xơ dừa phơi nắng, cất giọng khàn đặc đầy lo âu:

Bình luận chương 0
Đăng nhập để tham gia bình luận.
Đang tải bình luận…