Đòn Gánh Tre Đực Uốn Cong Sóng Gió Lăng Gia
Chương 24: Đoàn Viên Dưới Bóng Ngàn Tre
Ráng chiều đỏ ối buông xuống mặt sông Ninh Giang như dát một dải lụa điều óng ả lên từng con sóng gợn. Cụ Lăng Đình Khiêm dừng bước nơi mỏm đá đầu ghềnh, chống chiếc gậy tre mộc mạc lắng nghe tiếng nước vỗ bì bõm vào bờ đất nện. Gió bấc hanh hao đã bớt sắc lạnh, thỉnh thoảng xen vào những cơn gió nồm se se mang theo hơi ấm đầu xuân, thoảng đưa mùi bùn non nồng đượm quyện lẫn hương khói rơm nếp từ các xóm chài xa xa., thoảng đưa mùi bùn non nồng đượm quyện lẫn hương khói rơm nếp từ các xóm chài xa xa. Cụ hít một hơi thật sâu, cảm nhận lồng ngực khoan khoái, từng khớp xương già nua sau trăm năm dầu dãi nay thư thái như một thân tre đực vừa được nhấc ra khỏi đáy bùn ao, sạch sẽ và dẻo dai trở lại dưới ánh nắng mới..
Thoát khỏi vòng xoáy danh lợi và hiểm họa khi quân, chòi trúc nơi đầu ghềnh đá đón cụ trở về trong vẻ tĩnh mịch quen thuộc. Những ngày giáp Tết trôi qua thật êm đềm. Cụ Khiêm chỉ việc ngồi bên chõng tre nhấp ngụm nước chè xanh om đặc, ngắm rặng tre ngà đâm chồi nảy lộc, rễ bám sâu vào lòng đất mẹ xứ Đoài.
Đến sáng ba mươi Tết, tiết trời quang đãng, nắng non trải vàng rực trên khắp các ngọn tre cổ thụ. Từ phía đường mòn dẫn vào trang viên, tiếng cười nói rộn rã hòa cùng tiếng chày giã giò, mùi lá dong luộc bánh chưng thơm nức bay bảng lảng trong không gian. Cụ Khiêm mỉm cười, khẽ chỉnh lại vạt áo nâu sồng phẳng phiu rồi thong thả chống gậy tản bộ về phía sân gạch từ đường.
Vừa bước qua cổng ngõ rợp bóng mát của Ngàn Tre Cổ, cảnh tượng trước mắt khiến đôi mắt mờ đục của bậc đại lão bách tuế ánh lên niềm vui sướng khôn xiết. Khoảng sân gạch đỏ son rộng thênh thang nay chật ních người. Con cháu hai chi tề tựu đông đủ, ai nấy đều bận rộn trong niềm hân hoan rạng ngời. Bên dưới bức kim bảng “Bách Nghệ Gia Phong” lấp lánh ánh vàng nơi gian tiền tế, hương trầm nghi ngút tỏa làn khói mỏng thơm ngát, che chở cho chiếc đòn gánh tre đực trăm năm cùng túi tiền kẽm cổ đang ngự trang nghiêm trên giá gỗ gụ.
Dưới gốc cây thị già góc sân, Trọng Tấn và Thúc Hòa đang ngồi sát bên nhau trên chiếc sập tre dài. Trước mặt hai anh em là tấm sơ đồ bãi bồi ven sông Ninh Giang vẽ bằng mực tàu trên giấy bản. Trọng Tấn vừa chỉ ngón tay thô ráp vào khúc sông cong, vừa hào hứng bàn bạc:
“Chú Thúc Hòa xem, bãi bồi phía đông này đất thịt pha cát dày dặn, lại đón dòng nước êm. Ta đào thêm ba mẫu ao ngâm tre ở đây, mùa lũ tới bùn phù sa lắng xuống sẽ béo ngậy chẳng kém gì đầm cổ của tổ tiên. Đợt tre đực ươm mới năm nay cứ ngâm đủ trăm ngày dưới lớp bùn ấy, mười năm sau họ Lăng ta sẽ có thêm ngàn vạn thân tre dẻo dai gánh việc nước.”
Thúc Hòa gật đầu lia lịa, nét mặt rạng rỡ vẻ thanh thản, tay thoăn thoắt chấm bút lông ghi chép cẩn thận vào cuốn sổ bộ:
“Bác tính chí phải lắm! Tiền bạc thầu triều đình ban thưởng sau khi trừ tiền công thợ và mua sắm nông cụ vẫn còn dư dả. Em đã tính toán trọn vẹn, trích ra một phần mua thêm cọc gỗ nghiến và thuê bà con xóm ngoài cùng đào ao đắp bờ. Việc giao thương với các thuyền buôn dưới hạ lưu cứ để cha con em lo liệu, cốt sao giữ trọn chữ tín của xưởng tre.”
Nhìn hai anh em chi trưởng chi thứ hòa thuận như chân với tay, cụ Khiêm khẽ vuốt chòm râu bạc trắng, lòng dạ lâng lâng một niềm xúc động khó tả. Vết rạn nứt tưởng chừng xé toạc gia tộc ngày nào nay đã được hàn gắn bằng chính sự bao dung và tình cốt nhục thiêng liêng.
Cách đó không xa, dưới hiên xưởng chuốt tre, Hoài Nam đang ngồi xổm trên nền đất nện, vây quanh chàng là năm sáu đứa trẻ chừng tám, chín tuổi. Đôi bàn tay vạm vỡ của chàng nhẹ nhàng cầm lấy bàn tay non nớt của một cậu bé, hướng dẫn em miết dọc theo thân một gióng tre non:
“Các em nhớ kỹ lời cụ tổ dạy nhé. Muốn biết cây tre có đủ tuổi làm đòn gánh hay không, không chỉ nhìn màu cật xanh hay vàng, mà phải dùng ngón tay gõ nhẹ vào mắt tre. Nghe tiếng kêu đanh gọn như tiếng khánh đồng, ấy là tre già ngậm đủ nắng mưa. Còn tiếng kêu lẹt đẹt, ruột xốp mềm xèo thì chớ có đốn, uốn vào lửa là nứt toác ngay.”
Bên cạnh con dao bách niên hộ thân bằng thép rèn xanh biếc đeo bên hông, Bên cạnh con dao bách niên hộ thân bằng thép rèn xanh biếc đeo bên hông, con dao chuốt cũ khắc tên Hoài Nam — vật từng bị thu giữ làm tang chứng oan ức — nay đã được chú Thúc Hòa thành tâm hoàn trả, nằm ngay ngắn trong bao da mộc mạc bên cạnh hòm đồ nghề.. Chàng thanh niên nóng nảy bốc đồng thuở nào giờ đây đã thực sự trưởng thành, toát lên phong thái đĩnh đạc, vững chãi của một người thợ cả kế nghiệp tương lai.
Nơi bậc thềm gian giữa, Thu Lan xúng xính trong tà áo tứ thân màu nâu non viền chỉ hồng, nụ cười tươi tắn như nan mây mới chẻ óng lên dưới nắng sớm. Đôi bàn tay khéo léo của nàng thoăn thoắt bày biện mâm ngũ quả trên chiếc mâm đồng sáng bóng. Từng quả bưởi vàng ươm, nải chuối tiêu xanh thẫm, chùm quất mọng nước đều được nàng nâng niu xếp đặt ngay ngắn, bày tỏ lòng thành kính tột bậc với tiên tổ đã phù hộ cho dòng họ vượt qua cơn bĩ cực.
“Kìa, Cụ tổ đã về!”
Tiếng reo vui của Thu Lan làm rộn vang cả khoảng sân. Tất cả con cháu lập tức dừng tay, đồng loạt hướng ánh nhìn kính cẩn về phía bậc thềm cổng ngõ. Trọng Tấn và Thúc Hòa vội buông bút giấy, cùng Hoài Nam rảo bước tới cung kính đỡ lấy cánh tay gầy gò của cụ Khiêm.
“Con lạy Cụ tổ! Chúng con mải chuẩn bị cỗ bàn, chậm trễ ra đón Cụ, xin Cụ tổ lượng thứ.” Trọng Tấn kính cẩn cúi đầu thưa.

Bình luận chương 0
Đăng nhập để tham gia bình luận.
Đang tải bình luận…