Gieo Mầm Linh Thảo Dưới Chân Côn Lôn
Chương 1: Mầm Nhỏ Trong Sỏi Đá
Gió sớm từ rặng Côn Lôn thổi xuống luôn mang theo cái lạnh thấu xương của tuyết ngàn năm, nhưng khi lướt qua lòng chảo thung lũng Lạc Hà, nó lại bị những triền đồi thoai thoải và màn sương ẩm xua bớt đi vẻ sắc nhọn, chỉ còn đọng lại làn hơi the the dịu nhẹ nơi đầu mũi.
Vân Triệt ngồi xổm bên luống đất sát bờ rào dâm bụt, ngón tay thon dài khẽ gạt lớp sỏi xám sang một bên. Đất dưới chân núi này cằn cỗi, pha nhiều cát sạn thô ráp, vốn bị đám tu sĩ ngự kiếm trên mây nhìn xuống bằng nửa con mắt, khinh miệt gọi là “tạp thổ phàm trần” — thứ đất bạc màu không thể uẩn dưỡng nổi lấy một cọng linh thảo hạ phẩm. Thế nhưng, ngay dưới kẽ nứt hẹp hòi giữa hai hòn sỏi sắc cạnh, một chấm xanh non nớt như hạt ngọc bích đang kiên cường đội lớp đất mùn nhú lên đón lấy ánh ban mai.
Đó là một mầm non của cỏ Thanh Tâm.
Chàng khẽ cong khóe môi, để lộ nụ cười thong dong, ấm áp như vạt nắng đầu mùa. Thở ra một làn hơi mỏng manh trắng xóa giữa sớm mai tinh sương, Vân Triệt nhẹ nhàng đặt đầu ngón tay trỏ áp sát vào cuống mầm. Từ sâu trong đan điền chàng, một luồng khí tức ấm áp, thuần hậu bắt đầu chậm rãi xoay chuyển nhịp nhàng. Khí tức ấy mang sắc vàng óng ả, trầm tĩnh của hành Thổ, nhưng khi men theo đường kinh mạch thông suốt truyền tới đầu ngón tay, nó lại khẽ khàng chuyển hóa thành sắc xanh biếc mơn mởn của hành Mộc, dịu dàng bao bọc lấy mầm cây bé bỏng.
Chồi non dường như cảm nhận được nguồn sinh cơ dạt dào và thiện ý thuần khiết ấy, hai phiến lá mỏng manh khẽ rung rinh trong gió sớm, vươn cao thêm chừng nửa đốt ngón tay, tỏa ra mùi hương thanh tân thoang thoảng xua tan mùi đất lạnh.
“Khởi đầu không tệ.” Vân Triệt lẩm bẩm mỉm cười, phủi nhẹ chút vụn đất bám nơi đầu ngón tay rồi đứng thẳng người dậy vươn vai một cái thật dài.
Chàng năm nay hai mươi mốt tuổi, thân hình mảnh khảnh dong dỏng cao trong bộ trường bào vải thô màu nâu nhạt đã giặt đến bạc màu. Vạt áo xắn cao ngang gối, ống tay áo cột gọn ghẽ bằng hai dải dây gai mộc mạc, để lộ cẳng tay săn chắc cùng đôi bàn tay vương chút bùn đất ẩm. Trên gương mặt thanh tú tuấn dật, đôi mắt chàng sáng trong và tĩnh lặng như làn nước giếng sâu mùa thu, không gợn một tia tạp niệm hay tham vọng danh lợi tầm thường.
Nếu người của các đại tông môn ngự trên đỉnh Côn Lôn nhìn thấy cảnh này, chắc chắn họ sẽ lắc đầu cười nhạo chàng là kẻ có mắt không tròng, cam tâm chôn vùi đời người nơi góc ruộng. Mười năm trước, khi các vị trưởng lão tiên môn ngự mây ngũ sắc hạ phàm xuống thôn Lạc Hà kiểm tra căn cốt hài đồng, họ từng đặt pháp bàn thử linh căn trước mặt chàng. Khi năm đạo hào quang Kim, Mộc, Thủy, Hỏa, Thổ cùng lúc lóe lên hỗn độn, vị trưởng lão nọ chỉ liếc mắt nhìn qua rồi buông một tiếng thở dài đầy khinh bạc:
“Ngũ hành tạp linh căn, tạp chất đầy mình, linh khí xung đột không thể dung hợp, đời này khó lòng bước qua nổi Luyện Khí tầng ba. Đồ phế vật, về nhà an phận cày ruộng đi thôi!”
Đám người tu tiên tranh đoạt ngày đêm ấy làm sao có thể thấu hiểu được, cái mà họ gọi là “tạp linh căn phế vật” thực chất lại là Hỗn Nguyên Thổ Mộc Chân Thể nghìn năm khó gặp. Đúng là chàng không thể thổ nạp linh khí bạo liệt một cách điên cuồng để ngự kiếm phi thăng như các bậc thiên chi kiêu tử của họ, nhưng đổi lại, bên trong cơ thể chàng là một vòng tuần hoàn sinh hóa hoàn mỹ không một tì vết: Thổ sinh Kim, Kim sinh Thủy, Thủy sinh Mộc, Mộc sinh Hỏa, rồi Hỏa lại quay về bồi dưỡng Thổ.
Năm luồng khí tức luân chuyển bất tận, hòa vào từng tấc da thịt, khiến chàng sở hữu khả năng cảm ứng vạn vật phi phàm. Kẻ tu đạo trên chín tầng mây kia luôn coi trời đất là đối thủ cần phải “đoạt thiên tranh mệnh”, dùng đao kiếm xé toạc thương khung để cầu trường sinh; còn Vân Triệt lại xem đất trời là mẹ, vạn vật cỏ cây là tri kỷ đồng hành. Ba sào đất hoang phế mà tổ phụ để lại ở ven thôn Lạc Hà, đối với người khác có lẽ là gánh nặng mưu sinh gian truân, nhưng đối với chàng, đó là một tiểu thiên địa an yên nhất cõi hồng trần.
Vân Triệt cúi người nhấc chiếc đòn gánh bằng tre đực dẻo dai cùng đôi thùng gỗ đã mòn nhẵn góc cạnh. Chàng quay đầu nhìn lại căn nhà tranh ba gian mộc mạc của mình. Dưới giàn nho cằn cỗi đang chuẩn bị đâm chồi đón xuân, chiếc bàn trà bằng gỗ thông xộc xệch được đặt ngay ngắn. Xa hơn một chút là khoảnh ao sen nhỏ đang tĩnh lặng đón nhận những giọt sương mai rỏ xuống từ mép lá úa tàn mùa đông. Cuộc sống như thế này, sáng ngắm hoa nở, trưa hong vạt áo, chiều đợi cánh chim về rừng, hà cớ gì phải bon chen lên đỉnh núi tuyết lạnh căm kia để chịu gió buốt và tranh giành chém giết?
Rời khỏi khoảng sân nhỏ rộn tiếng chim chuyền cành, Vân Triệt thong thả sải bước men theo con đường mòn phủ đầy cỏ may hướng về phía bờ suối Lạc Hà.
Dòng suối này bắt nguồn từ hẻm núi hiểm trở sâu thẳm trong rặng Côn Lôn, len lỏi chảy qua những khe đá gập ghềnh rêu phong rồi uốn lượn ôm trọn lấy thung lũng trước khi hòa vào dòng đại giang ngoài phàm giới. Nước suối được hòa tan từ băng tuyết ngàn năm trên đỉnh cao vời vợi, mang theo khoáng chất mát lành và một chút linh khí loãng phảng phất, chính là nguồn nước tưới tiêu quý giá nhất cho mảnh vườn ba sào của chàng.
Sớm nay, thôn dã bình yên đến lạ lùng. Từ xa xa trong xóm, tiếng đe búa lách cách, nhịp nhàng của lò rèn lão Trương bắt đầu vang lên phá tan sự tĩnh mịch của thung lũng. Mùi khói bếp thoang thoảng mùi rơm rạ quyện trong sương sớm tạo nên một khung cảnh nhân gian ấm áp, trái ngược hoàn toàn với đỉnh Côn Lôn Cửu Đỉnh sừng sững trên nền trời xa.
Nơi đó, mây mù quanh năm che phủ, tuyết trắng xóa lạnh lùng như một lưỡi gươm tuốt trần đâm thẳng vào bầu trời xanh ngắt. Vân Triệt dừng bước, ngước nhìn lên đỉnh núi tuyết xa xôi, khẽ nheo mắt lại. Dù ở cách xa hàng chục dặm, linh giác nhạy bén hòa cùng nhịp thở đất trời của chàng vẫn lờ mờ ngửi thấy mùi máu tanh và sát khí sắc bén vương vất trong từng đợt gió bấc tràn về. Chắc hẳn trên chín tầng mây kia, các tông môn chính đạo ngụy quân tử và ma tu lại vừa trải qua một hồi gió tanh mưa máu vì một cuốn bí tịch tàn khuyết hay một gốc tuyết liên ngàn năm nào đó.
“Tranh tới cướp lui, đao kiếm nhuộm máu đồng môn, cuối cùng chẳng qua cũng chỉ đổi lấy một nắm xương tàn vùi sâu dưới lớp tuyết lạnh vô tình.” Vân Triệt lắc đầu cười khẽ, tự nhủ lòng mình rồi bước nhanh hơn về phía bờ suối.
Thế nhưng, khi đôi giày vải thô vừa chạm vào bãi sỏi trắng ven bờ suối Lạc Hà, bước chân chàng đột ngột khựng lại giữa chừng.
Cánh mũi chàng khẽ phập phồng.
Giữa mùi ngai ngái quen thuộc của rêu xanh mục rỗng và hơi nước ẩm ướt, có một mùi tanh tưởi nồng nặc đang xộc thẳng vào xoang mũi. Mùi tanh này quá mức gay gắt, lại pha lẫn một luồng khí lạnh thấu buốt tận xương tủy, khiến không khí xung quanh dường như ngưng đọng lại thành từng khối băng vô hình.
Vân Triệt hạ đôi thùng gỗ xuống bờ sỏi, ánh mắt lập tức dâng lên vài phần cảnh giác hướng về phía mặt suối.
Bình thường, dòng suối Lạc Hà trong vắt đến mức có thể nhìn thấu tận đáy, soi rõ từng đàn cá bống bơi lội lách qua những viên cuội tròn nhẵn. Nhưng lúc này đây, trên mặt nước biếc lại xuất hiện từng vệt đỏ thẫm kéo dài, dập dềnh trôi xuôi theo dòng chảy xiết. Những vệt máu ấy không hề loãng đi ngay theo dòng nước, mà tụ lại thành từng mảng đặc quánh như chu sa, tỏa ra làn khói trắng mỏng manh của hàn khí cực độ. Dòng nước xuân mát lành khi chạm phải những vệt máu này liền lập tức đóng thành những vụn băng mỏng lạo xạo dạt vào mép sỏi bờ suối.
“Huyết sát nồng nặc, hàn độc bạo liệt...”
Vân Triệt nheo mắt, đáy lòng dấy lên một hồi chuông cảnh báo mãnh liệt. Lượng máu trôi xuôi theo dòng nước này nhiều đến mức khủng khiếp, chứng tỏ kẻ bị thương ắt hẳn đã mất đi quá nửa sinh mệnh, toàn thân chẳng còn mấy chỗ nguyên vẹn. Hơn thế nữa, luồng kiếm khí tàn dư phát tán ra từ dòng nước sắc lẹm đến mức khiến da thịt nơi mu bàn tay chàng hơi rát buốt, dù chàng đang đứng cách mép nước hơn mười bước chân.
Lý trí lập tức mách bảo chàng nên quay đầu rời đi.
Ở thôn Lạc Hà này, phàm nhân muốn sống sót an nhàn qua ngày đều phải dựa vào một quy tắc bất thành văn: Tuyệt đối không dính líu đến ân oán thị phi của người tu tiên. Bất kỳ một tu sĩ nào rơi xuống từ đỉnh Côn Lôn đều là hiện thân của rắc rối và tai ương, là mầm mống có thể biến cả ngôi làng thanh bình thành tro bụi chỉ sau một cái phất tay của kẻ thù đuổi theo.
Chàng đã nhấc đòn gánh lên vai, toan xoay người rảo bước trở về khoảng sân an toàn của mình. Nhưng vừa bước được hai bước, vòng tuần hoàn Thổ Mộc trong cơ thể chàng bỗng rung lên từng hồi khe khẽ. Trong luồng hàn khí chết chóc đang trôi xuôi theo dòng nước tuyết tan, linh giác của chàng lờ mờ cảm nhận được một tia sinh cơ yếu ớt vô cùng đang hấp hối vùng vẫy. Nó mong manh và kiên cường giống hệt như mầm non cỏ Thanh Tâm ban sáng bị đá đè, quằn quại giữa lằn ranh sinh tử, chỉ cần một cơn gió lạnh vô tình thổi qua là sẽ vĩnh viễn tàn lụi thành tro bụi.
Đạo của chàng là gieo mầm, là dưỡng sinh, là nâng niu từng tấc sinh cơ bé nhỏ của đất trời. Thấy một mạng người ngã xuống trước mắt mà quay lưng bỏ mặc, đạo tâm ắt sẽ lưu lại một vết rạn nứt khó lành.
Vân Triệt thở dài một hơi đầy bất đắc dĩ, khẽ lẩm bẩm: “Xem ra hôm nay không gánh nước sớm được rồi.”
Chàng đặt gánh nước xuống, giấu đôi thùng gỗ vào sâu trong bụi lau sậy rậm rạp ven bờ để tránh gây sự chú ý. Sau đó, chàng thận trọng lần theo vệt máu còn vương trên mép nước, đi ngược dòng suối tiến sâu về phía khe núi hiểm trở — nơi tiếp giáp cheo leo giữa sườn đồi thoai thoải và vách đá dựng đứng của rặng Côn Lôn.
Càng đi sâu vào hẻm đá, địa hình càng trở nên gồ ghề trắc trở khôn lường. Sỏi đá dưới chân sắc nhọn lởm chởm, hai bên vách đá sừng sững cao vút che khuất gần như toàn bộ ánh mặt trời buổi sớm, chỉ để lại một khoảng trời xám xịt lạnh lẽo và tiếng gió hú u u qua khe nứt. Dấu máu trên đá ngày càng dày đặc và nhớp nháp, có những chỗ máu tươi bắn tung tóe lên đám rêu xanh ven vách đá, đóng băng lại thành những hạt châu màu đỏ sẫm ma quái phát ra ánh sáng nhờ nhợt.
Đi được chừng hơn một dặm, lách qua một khúc quanh đầy những tảng đá ngầm chắn lối, đồng tử Vân Triệt khẽ co rút lại.
Bên mép nước lởm chởm đá cuội, một bóng người đang nằm sấp bất động. Nửa thân dưới của người nọ chìm ngập trong làn nước suối lạnh buốt thấu xương, còn nửa thân trên gục gãy trên một phiến đá tảng phủ đầy sương muối trắng xóa.
Vân Triệt nín thở, chậm rãi vận chuyển linh khí Thổ hệ trầm lắng xuống lòng bàn chân, bước đi nhẹ tênh không phát ra dù chỉ một tiếng lạo xạo nhỏ. Chàng cúi người nhặt một cành cây khô dài chừng vài thước, cẩn thận tiến lại gần từng bước một. Khi khoảng cách chỉ còn cách chừng ba bốn bước chân, chàng mới nhìn rõ thảm cảnh rợn người của kẻ nằm đó.
Đó là một nam tử. Người ấy khoác trên mình một bộ trường bào màu trắng thêu chỉ bạc tinh xảo lộng lẫy, nhưng giờ đây bộ y phục ấy đã rách nát tả tơi như bị hàng ngàn lưỡi kiếm sắc nhọn chém qua, nhuốm đầy bùn đất nhơ nhớp và những mảng máu tươi đông cứng đen sẫm. Mái tóc đen dài xõa tung rối bời, bết chặt vào vạt áo và mặt đá phủ băng.
Xung quanh thân thể người nọ, không khí lạnh lẽo đến mức ngưng tụ thành từng bông tuyết nhỏ li ti bay lơ lửng giữa khoảng không. Mép nước nơi y gục ngã đã đóng lại thành một lớp băng dày màu hồng nhạt, tỏa ra hơi lạnh cắt da cắt thịt. Kỳ dị nhất là trên lưng và mạng sườn y, những vết kiếm thương sâu hoắm lộ cả xương sườn trắng hếu không hề chảy máu đỏ bình thường, mà rỉ ra một thứ dịch lỏng màu lam sẫm mang theo hàn độc buốt giá ăn mòn da thịt.
“Kinh mạch vỡ vụn từng tấc, kiếm khí nghịch hành phản phệ, lại còn trúng phải Huyền Băng Độc chí tử...” Vân Triệt nhìn thoáng qua thương thế, trong lòng không khỏi kinh hãi thốt lên thầm thì.
Thương tổn nặng nề đến mức này, lục phủ ngũ tạng e rằng đều đã rạn nứt như đồ gốm vỡ, nếu đổi lại là tu sĩ Trúc Cơ hay thậm chí Kết Đan bình thường thì sớm đã hồn phi phách tán, chết không kịp ngáp từ lâu. Vậy mà sâu trong lồng ngực người này, trái tim vẫn đang đập những nhịp yếu ớt, ngắt quãng nhưng vô cùng ngoan cường. Ý chí sinh tồn của kẻ này quả thực kinh thế hãi tục, kiên định đến mức đáng sợ.
Vân Triệt dùng đầu cành cây khẽ gạt những lọn tóc dài bết máu che phủ khuôn mặt người nọ sang một bên.
Dù đã chuẩn bị sẵn tâm lý, chàng vẫn không khỏi khựng lại một nhịp thở trước dung mạo của kẻ trước mặt.
Dưới lớp máu khô và bụi bặm phong trần là một gương mặt tuấn tú đến mức nghẹt thở. Đường nét góc cạnh rõ ràng như được tạc từ khối ngọc thạch lạnh lẽo nhất cõi trần gian, sống mũi cao thẳng kiêu hãnh, hàng mày kiếm sắc bén xếch ngược lên thái dương mang theo sự ngạo nghễ bẩm sinh của kẻ đứng trên đỉnh cao vạn trượng. Bờ môi mỏng tái nhợt vì cạn kiệt huyết khí, nhưng khóe miệng vẫn mím chặt thành một đường thẳng tắp đầy bướng bỉnh và cô độc.
Người này tuổi tác nhìn bề ngoài chỉ chừng hai mươi tư, hai mươi lăm tuổi, nhưng quanh thân lại toát ra một cỗ khí chất tang thương, mỏi mệt và tịch mịch khôn cùng, như thể đã trải qua hàng trăm năm đơn độc đối diện với bão tuyết và sự phản bội.
“Một đại nhân vật trên đỉnh tiên môn rơi đài...” Vân Triệt khẽ lẩm bẩm đưa ra nhận định.
Bộ bạch y kia, dù đã rách nát thảm hại, nhưng chất liệu gấm vân mây dệt bằng tơ Băng Tằm ngàn năm tuyệt đối không phải thứ mà tán tu hay đệ tử bình thường có tư cách chạm tới. Đây chắc chắn là một kiếm tu đỉnh cấp vang danh trên đỉnh Côn Lôn, kẻ từng hô mưa gọi gió, ngạo thị quần hùng, nay lại ngã gục trong vũng bùn lầy nhơ nhớp nơi chân núi hoang vu như một con thú hoang cùng đường bị săn đuổi.
Cứu, hay là mặc kệ y tự sinh tự diệt?

Bình luận chương 0
Đăng nhập để tham gia bình luận.
Đang tải bình luận…