Hương Bưởi Bên Cầu Phù Sa
Chương 20: Hương bưởi bên cầu Phù Sa
Sương sớm trên sông Tiền mỏng mảnh như một dải lụa là, la đà ôm lấy rặng bần xanh rì rồi chầm chậm tan ra dưới những tia nắng đầu tiên của ngày mùng Hai Tết. Chưa năm nào cù lao An Bình lại đón một buổi sớm tinh khôi và ngọt lành đến vậy. Cơn gió chướng mơn man thổi từ mặt nước mênh mông vào sâu trong những con rạch rợp bóng dừa nước, mang theo hơi thở mát rượi của dòng phù sa đỏ nặng và một làn hương thanh tao, thơm lừng lững làm say đắm lòng người.
Đó là hương bưởi. Hàng vạn gốc bưởi da xanh trên khắp ba mươi héc-ta của cù lao dường như đã hẹn nhau từ trước, sau bao ngày vượt qua hạn mặn và độc chất, nay đồng loạt bung nở trắng xóa. Từng chùm hoa năm cánh dày dặn, trắng muốt như ngọc bích, ôm lấy bầu nhụy vàng ươm còn đọng những giọt sương mai óng ánh. Sắc trắng tinh khôi của hoa điểm xuyết trên nền lá xanh bóng mượt, trải dài từ đầu vàm cồn cho tới tận chân cầu Phù Sa, biến cả vùng đất bãi bồi thành một bức tranh mùa xuân thanh bình tuyệt mỹ.
Từ tinh mơ, con đường làng tráng bê tông chạy dọc rạch Cây Da đã rộn rã tiếng cười nói và tiếng guốc mộc khua lách cách. Tiếng trống lân rộn ràng từ đình thần xóm cồn vang rền từng nhịp tùng… cheng… cheng… tùng… tùng…, hòa cùng tiếng reo hò phấn khởi của đám con nít bận đồ hoa xúng xính. Hôm nay là ngày đại hỷ của cù lao: đám cưới của cô kỹ sư Lê Cẩm Tú và chàng thợ cơ khí Huỳnh Quốc Thái.
Trong căn buồng nhỏ thoang thoảng mùi gỗ mít và hương hoa bưởi của nhà ông Ba Sang, Tú đứng trước chiếc gương soi viền đồng cổ kính. Cô khẽ chạm tay lên ngực áo, nơi chiếc nhẫn bạc chạm khắc hình hoa bưởi tinh xảo đang lấp lánh trên ngón tay áp út. Ngắm nhìn bóng mình trong gương, Tú vẫn ngỡ như một giấc mơ êm đềm.
Không áo cưới lộng lẫy kết cườm trắng xoá như những đám cưới xa hoa chốn đô thành mà cô từng dự thời còn ở lại công ty nghiên cứu, Tú chọn cho mình bộ áo bà ba may bằng lụa tơ tằm màu vàng mỡ gà dịu nhẹ. Tà áo mềm mại ôm lấy vóc dáng thon thả, bờ vai nhỏ nhắn nhưng dẻo dai của một cô gái đã nếm trải đủ nắng mưa miệt vườn. Mái tóc đen nhánh, mượt mà được thắt bím gọn gàng buông lơi một bên vai, trên mái tóc cài một nhành hoa bưởi năm cánh trắng ngần vừa mới hái đầu cành, cánh hoa còn ươm chút sương mai tinh khiết. Nước da bánh mật khỏe khoắn ửng hồng dưới ánh mai, đôi mắt bồ câu trong veo sáng ngời, không vương một gợn son phấn cầu kỳ mà vẫn toát lên vẻ đằm thắm, rạng rỡ của người con gái sông Tiền.
“Trời đất ơi, chị Hai Tú bữa nay đẹp hết phần thiên hạ luôn nghen!”
Út Lành từ ngoài cửa xăm xăm bước vào, trên tay bưng chiếc mâm đồng nhỏ đựng chiếc lược ngà và đôi bông tai cẩn ngọc trai. Cô nhỏ tròn mắt nhìn Tú, miệng cười tươi rói để lộ đồng tiền duyên dáng:
“Em nói thiệt đó tía Ba, chị Hai bận áo bà ba cài hoa bưởi như vầy, lát nữa anh Thái nhìn thấy chỉ có nước đứng chết trân tại chỗ cho coi!”
Ngồi bên chiếc bàn tròn kê cạnh cửa sổ, ông Ba Sang đang tỉ mẩn dùng khăn nhung lau lại cây đờn kìm mun. Nghe Út Lành chọc, ông ngước lên, khóe mắt đầy những vết chân chim đồi mồi bỗng chùng xuống vì xúc động. Chiếc lưng còng của người nông dân cả đời lặn lội với đất đai dường như đã thẳng thớm hơn nhiều sau những ngày nhìn thấy mảnh vườn hồi sinh. Ông nhìn con gái rượu, đôi môi run run:
“Đẹp… Đẹp dữ lắm con. Mẹ con dưới suối vàng ngó thấy bữa nay, chắc người ngậm cười nơi chín suối. Con gái tía lặn lội chốn thành thị chịu biết bao nhiêu oan ức, tủi hờn, nay về lại đất vườn của ông bà, chẳng những cứu được rặng bưởi mà còn tìm được tấm chồng xứng đáng để gửi gắm cả đời. Tía mừng… tía mừng rơi nước mắt nè con.”
Tú bước lại gần, quỳ gối xuống bên cạnh cha, nắm lấy bàn tay gầy guộc đầy vết chai sạn của ông. Bàn tay này đã từng nhổ từng gốc bưởi chết cháy, từng gõ vào từng nhánh cây trăn trở suốt những đêm hạn mặn ngặt nghèo. Cô dụi trán vào lòng bàn tay ấm áp của tía, giọng nghẹn ngào:
“Tía đừng khóc nghen tía. Con lấy anh Thái nhưng nhà mình với nhà anh Thái chỉ cách nhau có mấy hàng bưởi với một nhịp cầu Phù Sa thôi hà. Con đi lấy chồng mà như ở nhà mình, sớm trưa con vẫn chạy qua nấu cơm, pha trà hoa bưởi cho tía, cùng tía chăm từng lứa bưởi ra hoa.”
“Ừ, tía biết chớ,” ông Ba Sang vuốt nhẹ mái tóc con gái, cười mà giọt lệ già lăn dài trên gò má sạm đen, “Thằng Thái nó hiền lành, chịu thương chịu khó mà tánh nết lại dạ ngọc lòng vàng. Nó thương con từ cái thời hai đứa còn chân đất lội bùn chia nhau trái bưởi rụng. Giao con cho nó, tía an lòng trăm bề.”
Đúng lúc đó, tiếng pháo giấy lách tách nổ ròn rã ngoài đầu ngõ kèm theo tiếng la bài hải của đám thanh niên xã viên:
“Đoàn rước dâu tới rồi! Chú rể Thái tới rồi bà con ơi!”
Tú giật mình ngước nhìn ra phía bến sông. Tiếng đờn ca, tiếng trống lân và tiếng cười nói bỗng chốc rộ lên như sóng trào.
Không giống bất kỳ một đám rước dâu nào thường thấy ở phố thị, nơi đây người ta rước dâu bằng một nét văn hóa miệt vườn độc nhất vô nhị. Trên mặt dòng sông Tiền đỏ au màu phù sa mỡ màng, một đoàn gồm bảy chiếc xuồng ba lá bằng gỗ sao mới tinh đang lướt êm ả thành một hàng dài. Mỗi chiếc xuồng đều được chùi rửa sạch bong, mạn xuồng kết đầy những nan lá dừa nước non uốn lượn hình đôi chim bồ câu ngậm bông hoa sen, viền quanh bởi hàng ngàn bông hoa bưởi tươi rói, tỏa hương thơm ngát cả một khúc sông.
Dẫn đầu đoàn xuồng là chiếc xuồng của chú rể. Huỳnh Quốc Thái đứng sừng sững nơi mũi xuồng, khiến Tú vừa nhìn thấy đã không kìm được mà đỏ bừng đôi má.
Hôm nay, chàng thợ cơ khí lấm lem dầu mỡ thường ngày hoàn toàn lột xác. Anh mặc bộ áo dài truyền thống bằng lụa màu xanh lam sẫm thêu họa tiết sóng nước chìm, đầu đội khăn đóng trang nhã. Bộ trang phục vừa vặn làm tôn lên bờ vai rộng vững chãi, vóc dáng cao ráo, rắn rỏi của một người đàn ông từng kinh qua giông bão. Vết sẹo dài nơi bắp tay phải cùng vết bỏng sau lưng – dấu tích của những đêm thức trắng chế tạo máy lọc RO và lao mình vào biển lửa cứu xưởng – đã hoàn toàn kéo da non, nép mình dưới lớp áo gấm như một tấm huân chương của lòng dũng cảm và đức hy sinh. Gương mặt vuông vức, cương nghị của anh sáng bừng dưới nắng sớm, ánh mắt thâm trầm ấm áp hướng thẳng về phía căn nhà ngói, nơi có người con gái anh yêu thương trọn kiên trinh.
Đứng ở đằng lái chiếc xuồng đi đầu là Đực Nhỏ. Cậu chàng bận chiếc áo bà ba màu nâu non, chiếc khăn rằn vắt ngang vai, tay cầm dầm chèo dẻo quẹo. Vừa khua mái dầm rẽ sóng phù sa, Đực Nhỏ vừa cất giọng hò lảnh lót:
“Hò… ơ… Sông Tiền sóng gợn phù sa, Bưởi xanh mọng nước… hò… ơ… Bưởi xanh mọng nước đậm đà tình duyên. Ghé xuồng ghé bến An Bình, Đón nàng dâu thảo… trọn tình trăm năm…!”
“Hay quá trời quá đất!” Mấy chú, mấy thím đứng chật kín hai bên bờ rạch Cây Da vỗ tay rầm trời.
Trên các chiếc xuồng phía sau, má Năm Nhàn ngồi cùng các bậc cao niên trong họ hàng nhà trai. Bà Năm Nhàn diện chiếc áo dài nhung màu tím huế, gương mặt đôn hậu bừng lên niềm vui sướng khôn xiết sau những chuỗi ngày dài một mình dệt chiếu nuôi con trong nghèo khó. Trên mỗi chiếc xuồng là những mâm sính lễ được đậy bằng khăn điều đỏ thắm. Nhưng đặc biệt nhất, ngoài trầu cau têm cánh phượng và bánh phu thê truyền thống, người cù lao ai nấy đều trầm trồ khi nhìn thấy những mâm sính lễ mang đậm hồn cốt của Hợp tác xã Phù Sa Xanh: một cặp bưởi da xanh cổ thụ tuyển chọn từ cây đầu dòng nặng gần sáu ký, da bóng láng không một vết trầy, cuống lá xanh tươi; hai chiếc bình thủy tinh đựng tinh dầu bưởi nguyên chất đạt chuẩn OCOP 4 sao trong vắt như giọt ngọc; và những khay mứt vỏ bưởi sấy lạnh trong veo như hổ phách do chính tay má Năm Nhàn kỳ công sên bằng đường phèn.
Mũi xuồng cập vào cầu tàu gỗ trước sân nhà gái. Thái bước thoăn thoắt lên bờ, bàn tay dày dặn, quen cầm mỏ hàn và kìm búa khẽ run run khi đón lấy cơi trầu têm cánh phượng từ tay má để trao sang họ nhà gái.
Khi Tú từ trong buồng được Út Lành dắt tay bước ra thềm ba, bước chân của Thái khựng lại giữa sân gạch. Đôi mắt anh mở to, ngỡ ngàng nhìn Tú như thể không tin vào mắt mình. Dưới vòm hoa bưởi rợp bóng, cô gái nhỏ nhắn của anh, người từng cùng anh lội bùn đo độ mặn, từng cùng anh thức trắng đêm bên giàn máy lọc phế liệu, nay dịu dàng và thanh khiết như một đóa hoa bưởi đầu mùa.
Bốn mắt nhìn nhau. Một thoáng e ấp khiến má Tú ửng hồng, nhưng rồi ánh mắt cô chạm vào nụ cười hiền hậu, ấm áp đến nao lòng của Thái. Mọi nỗi âu lo, mọi vết thương lòng về sự phản bội nơi phố thị xa xôi từng bóp nghẹt tâm hồn cô trong quá khứ bỗng chốc tan biến sạch trơn, chỉ còn lại sự bình yên vô tận và một bờ vai vững như bàn thạch để cô tựa vào suốt phần đời còn lại.
Nghi thức đón dâu diễn ra vô cùng ấm cúng trước bàn thờ gia tiên. Ông Ba Sang run run thắp ba nén nhang trầm, dâng lên tổ tiên mảnh đất cù lao:
“Thưa ông bà tổ tiên, nay con gái Lê Cẩm Tú của con đã thành gia lập thất cùng cháu Huỳnh Quốc Thái. Chúng nó đã cùng nhau giữ đất, giữ vườn, làm rạng danh cho hương bưởi xứ mình. Cầu mong tổ tiên phù hộ độ trì cho đôi trẻ răng long đầu bạc, thuận vợ thuận chồng tát biển Đông cũng cạn.”
Khi hai đứa quỳ xuống lạy tía Ba và má Năm, bà Năm Nhàn xúc động rút từ trong túi áo ra một chiếc vòng ngọc bích gia bảo trao cho Tú:
“Má không có nhiều vàng bạc, chỉ có chiếc vòng của bà nội Thái để lại. Má trao cho con, từ nay con là dâu thảo, là con ruột của má. Mảnh vườn này, mái nhà này có được ngày hôm nay là nhờ công ơn và tấm lòng trời biển của con.”
“Má…” Tú ôm lấy má Năm, nước mắt lăn dài trên má vì hạnh phúc.
Sau lễ gia tiên, đoàn rước dâu không vội về nhà trai ngay mà cùng toàn thể bà con họ hàng, lối xóm diễu hành bộ men theo con đường hoa bưởi tiến về phía rạp cưới khổng lồ dựng ngay bên chân cầu Phù Sa.
Con đường rợp bóng dừa mát rượi ngập tràn sắc xuân. Đi đến đâu, tiếng chúc tụng lại vang rền đến đó.
“Mừng cho hai đứa nghen! Bữa nay đẹp đôi dữ dằn, tài sắc vẹn toàn!”
“Nhờ con Tú với thằng Thái mà dân cồn mình mới có cái Tết no ấm, nợ nần trả sạch trơn, lại còn bán được bưởi xuất ngoại nữa chớ!”

Bình luận chương 0
Đăng nhập để tham gia bình luận.
Đang tải bình luận…