Hương Trầu Cay Đọng Nắng Đất Miệt Vườn
Chương 14: Vị Cay Lòng Đất
Chiếc đò máy từ mé Cầu Bông vừa ghé mũi vào cầu tàu bến Bình Đông trong ánh mai rạng rỡ, cụ Ba Hòa đã vội vã chống gậy tre bước lên bờ gạch. Cả đêm trằn trọc không chợp mắt nổi nơi quê nhà, ruột gan cồn cào lo cho hai đứa con cháu thân cô thế cô giữa chốn phố thị xô bồ, cụ bèn đón chuyến đò sớm nhất theo dòng sông Sài Gòn xuôi về Chợ Lớn. Vừa lách qua dãy sạp hàng rau cải, tai cụ đã lùng bùng bởi tiếng nện ba-toong cồm cộp cùng giọng the thé chói lói của Biện Hùm:
“Bà con đừng để quân làm vườn miệt vườn lừa gạt! Trầu này trầu bệnh, đem từ ổ dịch rầy rạch Cầu Tre xuống bán tháo, ai mua về têm cúng hay bỏ mối cưới hỏi là rước họa vô đơn chí đó đa!”
Trước mái hiên vạn đò, Biện Hùm chĩa đầu ba-toong bịt bạc sáng loáng vào mười sọt tre, khóe miệng nhai trầu nhổ toẹt một bãi nước đỏ quạch xuống nền gạch tàu. Bên cạnh hắn, viên ký lục chợ bận bộ đồ tây trắng toát, tay kẹp tập hồ sơ da bò, đưa cặp mắt kính trắng lạnh lùng quét qua Trọng Tấn và Ba Khiêm. Mấy bà chủ vựa chợ Bình Tây nghe dọa dịch rầy liền dạt ra xa, nét mặt lộ rõ vẻ phân vân, e ngại.
Ba Khiêm tức giận đến run rẩy bắp thịt vai, toan bước tới ăn thua đủ thì một bàn tay gầy guộc nhưng rắn rỏi khẽ đặt lên lưng y. Cụ Ba Hòa đứng sừng sững bên cạnh, ánh mắt đôn hậu mà sâu thẳm như đáy giếng khơi, cất giọng rành rọt át cả tiếng ồn ào bến chợ:
“Chú Biện ăn miếng trầu của trời đất ban cho, cớ sao lại thốt lời đắng cay ngậm máu phun người vậy kìa?”
“Ủa, cụ Ba?” Biện Hùm giật thót, bàn tay đeo nhẫn vàng mặt ngọc bỗng khựng lại giữa chừng.
Không để kẻ gian kịp trở giọng, cụ Ba Hòa chống gậy đi thẳng vào giữa đám đông bạn hàng đang vây quanh. Dáng người cụ gầy gò trong bộ bà ba vải ú đen sờn vai, chiếc khăn rằn sọc xanh vắt ngang cổ phất phơ theo gió sông sớm. Cụ cúi xuống, tự tay mở tung lớp nẹp tre và gỡ bỏ từng lớp bẹ chuối hột lót trên miệng sọt đầu tiên.
Lớp bẹ chuối xanh mát mở ra, để lộ những cuống lá trầu hương Tân Thới Nhất xếp úp đều tăm tắp. Từng phiến lá dày cơm, xanh ngắt bóng bẩy tựa tráng men, không hề vương một đốm rầy hay vết thâm úng. Cơn gió sớm lùa qua, mang theo mùi tinh dầu nồng đượm, thơm the ngát cả một khoảng sân gạch, lập tức xua tan mùi xú uế tanh nồng nơi mé bến sông.
Mấy người bạn hàng Chợ Lớn ồ lên trầm trồ. Cụ Ba Hòa nhẹ nhàng nâng một chiếc lá trầu lành lặn, ngón tay thô ráp nứt nẻ lấm màu phù sa miết nhẹ lên sống lá rồi ngắt đôi một góc nhỏ đưa lên mũi hít một hơi sâu. Cụ bước đến trước mặt ông chủ vựa Tôn Phong Khang – người đàn ông đứng tuổi mặc áo xẩm gấm đen, vốn là bạn hàng trầu cau lớn nhất chợ Bình Tây:
“Thưa ông Khang, ông sành nghề cau trầu đất Sài Gòn – Gia Định này mấy mươi năm, ông ngửi thử xem đây là trầu rầy mục hay trầu hương chính gốc đất cát pha bùn xứ Tân Thới Nhất?”
Ông chủ Khang đón lấy mảnh lá, đưa lên mũi ngửi rồi đưa vào đầu lưỡi nhấm nhẹ một chút dịch lá ứa ra. Vừa chạm lưỡi, vị cay xộc lên mũi nhưng hậu ngọt thơm dịu lan tỏa khắp khoang miệng. Mắt ông sáng bừng lên, tấm tắc gật đầu:
“Hảo trầu! Vị cay nồng đượm, the thanh mà không gắt, gân lá mảnh dẻ đan khít hình xương cá. Đích thị là trầu hương miệt Hóc Môn chính cống, không lẫn vô đâu được! Mấy năm nay mới thấy lại thứ trầu thượng hảo hạng bực này!”
Viên ký lục chợ đẩy gọng kính, bước tới nhấc thử vài lá ở các sọt khác kiểm tra. Dưới đáy sọt, lớp bẹ chuối vẫn mọng nước che chở cho từng lớp lá tươi rói. Đúng lúc ấy, Trọng Tấn nhanh nhẹn lôi chiếc bao tải rách từ góc hiên ném phịch xuống chân Biện Hùm:
“Bẩm ông ký lục và bà con, đêm qua có kẻ lén mang cái bao chứa toàn trầu thối này toan rạch sọt của tụi tui để tráo hàng nhét vô bôi nhọ. Dấu sơn đỏ chữ Hùm rành rành trên bao đây, ai gian ai ngay nhìn là thấu tỏ!”

Bình luận chương 0
Đăng nhập để tham gia bình luận.
Đang tải bình luận…