Khung Cửi Tre Già Dệt Ấm Mùa Gió Bấc

Chương 21: Trát Đỏ Bến Sông

Viên quan thừa phái vội vàng khom lưng tuân lệnh, cẩn trọng đặt chiếc tráp gỗ sơn son lên mặt bàn mộc vừa dọn quang giữa xưởng tre. Tiếng khóa đồng bật mở tanh tách thu hút mọi ánh mắt đang nín thở dõi theo. Từ trong tráp, viên thừa phái cung kính lấy ra tờ giấy bản dày dặn lấp lánh ánh điệp, cùng chiếc nghiên mực đen nhánh và thỏi mực xạ thơm ngát.

Khương Vĩnh Lạc đứng sát bên cha, bàn tay nhỏ bé khẽ chạm vào vạt áo chàm đẫm mùi mùn cưa của Khương Đại Thành. Cậu cảm nhận rất rõ bắp chân lành lặn của cha đang gồng cứng, những ngón tay chai sần siết chặt lấy thanh nạng gỗ nghiến đến trắng bệch các khớp. Niềm xúc động dồn nén khiến lồng ngực người thợ mộc phập phồng từng nhịp gấp gáp.

Quan Tri huyện khẽ vuốt chòm râu hoa râm, nét mặt trang nghiêm nhưng ánh mắt tràn ngập vẻ trìu mến. Ngài chắp tay sau lưng, chậm rãi cất giọng trầm hùng dõng dạc đọc từng lời cho viên thừa phái chấp bút:

— Ngươi ghi rõ: Phủ huyện Yên Giang xét thấy dân xóm Cồn Bãi nghèo khó dãi dầu nơi bãi lầy sông Trà. Nay cha con thợ cả Khương Đại Thành cùng phường dệt đồng lòng, sáng chế khung cửi tre hai go tài tình, tận dụng cọng cói nước lợ và tơ bẹ chuối làm nên tấm đệm xốp giữ hơi ấm. Đó là nghĩa cử cứu ấm muôn dân qua bão rét, công lao rạng danh bách nghệ!

Tiếng ngọn bút lông sột soạt lướt trên mặt giấy bản vang lên rành rọt giữa gian xưởng tĩnh lặng. Hàng chục thợ dệt xóm bãi, từ chú Ba Vạng lực lưỡng đến thím Bảy Xoan lam lũ, đều nín thở lắng nghe, khóe mắt ai nấy đều hoe đỏ.

Khi viên thừa phái hạ nét bút cuối cùng, quan Tri huyện rút từ tráp ra chiếc ấn đồng lớn của nha môn, dằn mạnh xuống hộp chu sa đỏ thắm rồi ấn dứt khoát vào góc tờ giấy bản. Vết triện son vuông vức hiện lên tươi rói như đóa hoa đào mùa xuân, rực rỡ và đanh thép.

Quan Tri huyện đích thân đón lấy bản văn trát, quay người đối diện với toàn thể bà con đang đứng chật kín lán xưởng, cất giọng sang sảng tuyên đọc:

— Nay, bản huyện chính thức công nhận xóm Cồn Bãi là làng nghề thủ công dệt đệm truyền thống! Để khuyến khích nghề lành nuôi sống dân nghèo, bản huyện ban ba điều ân chuẩn:

Gian lán xưởng tre lặng phắc, chỉ còn tiếng gió bấc rít từng cơn ngoài rặng lau và nhịp thở nghẹn ngào của những người dân bần hàn.

— Điều thứ nhất: Ban văn tự trích lục bộ địa đóng triện đỏ, xác lập chủ quyền vĩnh viễn ba sào đất bãi bồi hương hỏa cho gia đình họ Khương đời đời gìn giữ, nghiêm cấm bất kỳ ai cậy quyền cậy thế dòm ngó, cướp đoạt! Điều thứ hai: Phê chuẩn giao dải bãi bồi công điền hoang hóa ven sông Trà cho phường dệt xóm bãi khai khẩn, chuyên canh cói và chuối hột làm nguồn vật liệu chung cho cả làng nghề! Điều thứ ba: Ân hạn miễn trừ toàn bộ phu phen tạp dịch mùa xuân trong một năm cho thợ dệt và trai tráng xóm bãi, để bà con an tâm mở rộng xưởng dệt, chăm lo sản xuất!

Từng câu từng chữ như xé toang mọi nỗi sợ hãi, cơ cực đã đè nặng lên lưng người dân xóm bãi suốt bao năm tháng.

Khương Đại Thành nghe như từng giọt máu trong tim sôi sục. Mảnh đất ba sào hương hỏa của tổ tiên từng đứng trước bờ vực bị siết nợ, nay đã có trát đỏ của phủ huyện bảo hộ đời đời. Người cha tật nguyền buông rơi chiếc nạng gỗ nghiến, run rẩy định quỳ sụp xuống nền đất tạ ơn:

— Tạ ơn trời đất... Tạ ơn quan lớn phụ mẫu đã thương xót che chở cho dân nghèo chúng con...

Đăng nhập để thả tim Đăng nhập để tương tác

Ủng hộ tác giả Khánh My
Mỗi lời động viên là động lực để tác giả tiếp tục sáng tác.

Khánh My

Tác giả của câu chuyện này · Hãy cùng ủng hộ những chương tiếp theo.

Đăng nhập để theo dõi

Bình luận chương 0

Đăng nhập để tham gia bình luận.

Đang tải bình luận…