Lần Vết Rêu Đỏ Đáy Giếng Đá Ong

Chương 14: Bức thư sau hai mươi lăm năm

Lời căn dặn trầm đục của cụ Vệ Thường Sơn tựa như gáo nước mát dội xuống ngọn lửa hờn căm đang bốc ngùn ngụt trong gian kho. Bàn tay đang ghì chặt then cài của Chủ nhiệm Nguyễn Văn Thịnh từ từ buông lỏng, lồng ngực anh phập phồng sau một hơi thở dài nén chặt. Thịnh quay lại, nhìn đăm đăm vào ngọn đèn hoa kỳ leo lét trên bàn gỗ, giọng chùng xuống đầy vẻ phục tùng kinh nghiệm của bậc cao niên: “Cụ thợ cả nói phải. Cháu nóng vội quá suýt làm hỏng việc lớn. Nếu bắt lão lúc nửa đêm, lão sẽ kêu oan rồi vin vào uy danh cán bộ cũ mà khuấy đảo dư luận. Cứ để lão tưởng việc giếng cổ vẫn chưa xong. Chờ đến lúc họp đình làng, đem đủ hài cốt và tang chứng ra đối chất thì lão có trăm miệng cũng không chối cãi được.”

Cụ Sơn khẽ gật đầu, vỗ nhẹ lên vai Vệ Thường An rồi dặn dò bằng giọng ấm áp: “An này, sáng sớm mai con mang ấm chè vối nóng sang lớp học vỡ lòng cho cô giáo Mai. Đưa cây bút máy Kim Tinh cho cô ấy để người nhà yên lòng trước, rồi kín đáo hỏi xem năm xưa anh Lương có để lại giấy tờ, thư từ gì không. Bằng chứng dưới đất đã đủ, nhưng muốn định tội kẻ gian thì giấy trắng mực đen của người sống lẫn người chết đều không được thiếu.”

An nghiêm giọng vâng dạ, cẩn thận đặt chiếc khăn phin bọc cây bút máy vào sâu trong túi áo ngực, nơi áp sát lồng ngực nóng hổi của mình.

Cữ sáng hôm sau, sương sớm xứ Đoài bảng lảng giăng ngang những rặng tre ngà và mái ngói rêu phong của làng Đồi Ong. Gió heo may thổi se sắt, mang theo mùi rơm rạ ẩm ướt và hơi đất son ngai ngái quen thuộc.

An xách chiếc ấm tích ủ chè vối bọc trong giỏ tre đan dày, bước từng bước khoan thai trên con đường lát gạch nghiêng dẫn về phía lớp học vỡ lòng ở đầu thôn. Lớp học vốn là ngôi nhà ba gian mái lợp lá gồi của hợp tác xã nhường lại cho con em xã viên học chữ. Từ ngoài rào râm bụt, An đã nghe thấy tiếng đọc bài non nớt, ngọng nghịu của lũ trẻ con vang lên giòn giã: “O tròn như quả trứng gà... Ô thì đội mũ, ơ thì thêm râu...”

An dừng bước bên hiên lớp, kín đáo nhìn qua khung cửa sổ có chấn song tre mộc. Dưới ánh sáng ban mai lọt qua kẽ liếp, cô giáo Đỗ Thị Mai đang cặm cụi đứng bên chiếc bảng gỗ đen ghép từ ba tấm ván mộc. Cô mặc chiếc áo bà ba màu nâu sồng đã sờn vai, mái tóc điểm hoa râm búi trễ sau gáy, dáng người gầy guộc toát lên vẻ thanh sạch, nhẫn nại. Cô cúi xuống, bàn tay gầy nắm lấy tay một đứa trẻ lên sáu, ân cần uốn từng nét phấn trắng trên mặt bảng con. Đôi mắt cô thăm thẳm nét u buồn tích tụ qua hai mươi lăm năm đằng đẵng gánh chịu những cái nhìn xoi mói, lạnh nhạt của người đời vì tiếng oan tày trời của người anh ruột.

Hồi kẻng sắt báo tan buổi học cữ sáng vang lên giòn giã ngoài ngõ. Lũ trẻ con ùa ra khỏi bậu cửa như đàn chim non vỡ tổ, miệng ríu rít chào cô giáo rồi túa ra đường làng.

Đợi cho sân trường vắng hẳn, An mới nhẹ nhàng bước vào gian lớp học phảng phất mùi bụi phấn và mực tím. Thấy bóng chàng trai trẻ, cô Mai ngẩng đầu lên, nét mặt thoáng vẻ ngạc nhiên rồi nở nụ cười hiền hậu: “Cháu An đấy à? Vào đây đi cháu. Sáng ra sương lạnh thế này, sao cháu không ở nhà nghỉ ngơi sau mấy ngày vất vả ngoài giếng?”

An đặt ấm tích lên chiếc bàn giáo viên đóng bằng gỗ xoan mộc, lễ phép đáp: “Cháu chào cô Mai. Ông nội cháu dặn mang ấm chè vối tươi mới hãm sang biếu cô uống cho ấm giọng. Mấy hôm nay trời trở gió, cô dạy học cả ngày dễ khô cổ lắm.”

Cô Mai xúc động, kéo chiếc ghế gỗ mộc mời An ngồi rồi rót bát nước chè vàng óng, bốc khói nghi ngút. Đôi mắt đượm buồn của cô khẽ liếc về phía chàng trai trẻ, ngập ngừng hỏi nhỏ: “Việc nạo vét dưới Giếng Cả... các bác, các chú trên hợp tác xã làm đến đâu rồi hả cháu? Mấy hôm nay trong làng rộ lên bao lời đồn đại ma quái, cô ở đây dạy học mà ruột gan cứ cồn cào không yên...”

An nhìn thẳng vào đôi mắt u uẩn của người phụ nữ đã chịu nửa đời cay đắng. Cậu hạ thấp giọng, từng lời nói ra đều đanh chắc và chứa chan niềm xúc động: “Cô Mai... Đêm qua ông nội và cháu đã nạo vét thông cửa ngách sụt dưới đáy giếng sâu mười lăm mét. Chúng cháu vào tận sâu trong lòng địa đạo năm xưa rồi... Hai ông cháu đã tìm thấy di cốt của bác Lương, cùng chiếc hòm gỗ lim chứa nguyên vẹn mười hai lượng vàng lá kháng chiến.”

Bát chè sành trên tay cô Mai chao đảo, vài giọt nước sóng ra mặt bàn. Gương mặt cô thoắt cái trắng bệch, đôi môi run rẩy không thốt nên lời: “Cháu... cháu bảo sao? Anh Lương... anh Lương của cô...”

Không để cô phải đợi lâu, An cẩn trọng mở cúc áo ngực, lấy ra chiếc khăn phin trắng tinh. Cậu mở từng nếp vải, để lộ cây bút máy Kim Tinh vỏ nhựa màu xanh sẫm, chiếc nắp kim loại mạ vàng tuy đã sờn theo năm tháng nhưng vẫn ánh lên sắc kim khí sáng bóng. An hai tay nâng cây bút, trân trọng trao vào lòng bàn tay gầy guộc của cô giáo: “Đây là kỷ vật bác Lương đánh rơi cạnh dầm gỗ sụt. Dòng chữ khắc trên nắp bút vẫn còn nguyên vẹn, cô xem này.”

Đăng nhập để thả tim Đăng nhập để tương tác

Ủng hộ tác giả ai5
Mỗi lời động viên là động lực để tác giả tiếp tục sáng tác.

ai5

Tác giả của câu chuyện này · Hãy cùng ủng hộ những chương tiếp theo.

Đăng nhập để theo dõi

Bình luận chương 0

Đăng nhập để tham gia bình luận.

Đang tải bình luận…