Lão Mõ Cười Nghiêng Bờ Tre Đầu Xóm
Chương 21: Thẻ Ngà Chặn Đao Hương Ước Tỏ
Mười hai lưỡi đao tuốt trần loang loáng, ánh thép lạnh buốt vung lên rít gió bổ thẳng về phía sập tế. Tiếng ủng da nện huỳnh huỵch trên nền gạch Bát Tràng quyện cùng tiếng la thét kinh hoàng của đàn bà con trẻ khiến sân đình Trúc Động như chao đảo. Mấy bác nông phu đứng gần chân sập líu ríu dạt ra xa, chừa lại khoảng trống chết chóc quanh thềm đình.
Đứng giữa vòng vây đao trượng, Lão Chước vẫn chôn chân vững như bàn thạch. Lão không hề nao núng, khóe miệng hé nụ cười thản nhiên. Đợi mũi đao của viên cai đội chỉ còn cách ngực chừng ba gang tay, lão mới khoan thai thọc tay vào vạt áo chẽn, rút chiếc thẻ ngà giơ thẳng lên trời.
Dưới ánh ban mai, chiếc thẻ ngà trắng muốt chạm hình chim ưng giương cánh ánh lên nét uy nghiêm. Lão Chước đứng thẳng lưng, cất giọng đanh thép ngân vang khắp các gian đình:
— Lũ bay mở to mắt ra mà nhìn! Thẻ ngà Khâm sai ngự sử tại đây! Kẻ nào dám manh động nửa bước, tội đồng mưu tạo phản, chu di tam tộc!
Tiếng quát như chuông đồng gióng giữa trời quang. Viên cai đội nha dịch vừa liếc thấy hoa văn chim ưng cùng nét chạm tinh xảo của ngự bảo triều đình thì rụng rời tay chân. Hắn khựng phắt lại, mũi đao run bần bật. Qua nét mặt hoảng loạn của viên cai đội, Lão Chước thừa biết một kẻ lăn lộn chốn nha môn như hắn ắt phải hiểu lệnh bài chim ưng chỉ thuộc về khâm sai ngự sử, đụng vào một sợi lông tơ của người cầm lệnh cũng đủ bay đầu cả họ.
— Đứng lại! Toàn bộ hạ đao xuống! — Viên cai đội tái ngắt mặt mày, giật lùi ba bước, hai tay ghìm đốc đao không dám xốc tới dù nửa tấc.
Mười một tên nha dịch còn lại thấy thế cũng nhất loạt chùn chân, ngơ ngác hạ thấp đao trượng. Cả sân đình nín thở, tĩnh mịch đến mức nghe rõ tiếng lá tre xào xạc trên mái ngói rêu phong.
Ngồi trên sập gụ, Tri huyện Bùi Thế Nghiêm sầm mặt, đập mạnh tay áo thụng. Chánh tổng Ma Đình Hách trán quấn dải lụa trắng toát liền chồm dậy, đôi mắt lồi the thé rống lên:
— Lừa đảo! Quan lớn chớ mắc mưu! Thằng mõ rách quanh năm xin xôi góc oản thì lấy đâu ra lệnh bài triều đình? Hẳn nó nhặt xương trâu ngoài bãi sông Đáy rồi thuê khắc bậy để dọa dẫm quan nha! Đồ giả! Rõ ràng là đồ giả!
Tri huyện nghe vậy, thấy Lão Chước mặc manh áo nâu vá vai tầm thường thì cơn giận dữ lấn át cả hồ nghi. Quan huyện đứng phắt dậy, trỏ ngón tay đeo nhẫn vàng quát tháo:
— To gan lớn mật! Dám ngụy tạo ngự bảo kháng lệnh quan trên! Cai đội, xốc tới chặt đầu thằng giặc mõ bêu cổng làng cho ta!
Viên cai đội toan bước lên thì từ hàng ghế bô lão, tiếng gậy trúc vang lên “cộc” đanh gọn trên phiến đá xanh. Cụ Cả Đỗ trong bộ áo thụng lam, râu tóc bạc phơ, đĩnh đạc bước lên sập tiền tế. Tuổi tám mươi nhưng dáng cụ thẳng tắp, đôi mắt quắc thước quét qua đám hào lý khiến Chánh Hách bất giác rụt cổ. Cụ nâng cuốn sách bọc da trâu cổ kính, giơ cao trước bàn thờ Thành hoàng làng, cất giọng sang sảng:
— Trước linh vị tiền nhân, lão tám mươi tuổi đầu, giữ chức tiên chỉ bô lão, xin lấy tính mạng bảo chứng! Đây chính là Hương ước cổ của làng Trúc Động do các bậc tiền hiền truyền lại suốt ba đời Chánh tiên chỉ!
Cụ lật trang giấy dó vàng óng, dõng dạc xướng to:
— Điều thứ bảy ghi rõ: “Mọi dải đất bãi bồi phù sa mới phát sinh ngoài đê ven sông Đáy thuộc về diện đất công điền trợ tế dân nghèo khai khẩn, hào lý không được phép cưỡng đoạt hoặc lập đinh bộ nội đê”! Ba mươi mẫu bãi bồi là công điền trợ tế, không một ai, kể cả quan huyện hay chánh tổng, được quyền cướp đoạt!

Bình luận chương 0
Đăng nhập để tham gia bình luận.
Đang tải bình luận…