Lối Đá Xếp Khan Xuyên Hẻm Vực Ảo
Chương 22: Nắng Ấm Bên Hiên Nhà Gỗ
Cụ San bước chậm rãi lại gần bàn thờ gia tiên. Hai tay cụ cẩn trọng cắm nén nhang trầm vào bát hương đồng đã ngả màu thời gian. Làn khói thơm lam nhạt vấn vít tỏa hương, bao trùm bức di ảnh đen trắng của người lính trẻ. Trên vách gỗ, gương mặt Hoàng Văn Định tuổi hai mươi mốt mỉm cười rạng rỡ, đôi mắt trong veo nhìn người bạn già của bảy mươi năm sau.
Sống mũi cụ San cay cay. Đôi bàn tay gầy gò nổi đồi mồi của cụ khẽ run lên khi chạm vào mép khung ảnh gỗ dổi. Cụ ghé sát, rưng rưng thì thầm bằng chất giọng trầm đục xứ Lạng:
“Định ơi... tôi về với ông rồi đây. Suốt bảy mươi năm qua, ngày nào tôi cũng nhớ cú xô của ông bên bờ vực Mẫu Sơn năm ấy. Ông đẩy tôi thoát khỏi vệt trượt taluy, để mình ông nằm lại dưới lòng đất mẹ... Tôi sống thay phần của ông, nhưng cái bụng lúc nào cũng mang một tảng đá đè nặng.”
Một giọt lệ già nua lăn nhẹ trên gò má nhăn nheo rồi tan vào nụ cười thanh thản:
“Hôm nay thì tôi nhẹ lòng rồi, Định à. Dưới hẻm sâu hơn ba trăm mét trong cõi ảo, tôi đã dùng đúng ngón nghề trắc địa và kỹ thuật giằng đá ngày xưa chúng mình cùng học để mở đường. Chín trăm chín mươi chín bậc đá xếp khan, không thiếu một bậc nào! Toàn bộ hơn hai nghìn đứa trẻ và mấy ông bạn già đều đã bình yên lên đỉnh núi. Bàn tay này không phụ công ông cứu mạng. Món nợ ân tình bảy mươi năm, hôm nay tôi mới có thể ngẩng đầu thưa cùng ông.”
Làn khói trầm khẽ lay động như cái gật đầu bao dung của người đồng đội cũ. Tảng đá vô hình đè nặng trong tâm khảm cụ San suốt gần một thế kỷ dường như đã tan biến thành tro bụi, chỉ còn lại sự bình yên vô bờ bến. Ký ức về Mẫu Sơn năm 2006 giờ đây không còn là nỗi day dứt xót xa, mà đã hóa thành nguồn cội sức mạnh chở che cho thế hệ mai sau.
Cụ San cúi đầu vái tạ, rồi chầm chậm quay người bước về phía chiếc chõng tre kê ở góc phòng khách. Nơi ấy đặt chiếc hòm gỗ nghiến đã lên nước bóng lộn, kỷ vật theo cụ qua bao thăng trầm đời người. Cụ ngồi xuống mép chõng, run run mở chiếc khóa đồng cũ kỹ.
Bên trong hòm, lót một lớp vải chàm thơm mùi lá rừng là những dụng cụ trắc địa ngoài thực địa của thế kỷ trước. Cụ cẩn thận nâng cuộn thước dây vải dù sờn rách mép và chiếc búa đẽo đá cán gỗ lim từng cùng cụ mở đường tuần tra biên giới năm 2006. Cụ San dùng vạt áo chàm khẽ lau đầu búa thép đã mòn vẹt, ngón tay lần theo từng vết xước dọc sống búa như đọc lại trang nhật ký gian lao thời trai trẻ.
Trong sa bàn ảo, cụ đã để lại chiếc búa tiều phu trên phiến đá mốc thứ chín trăm chín mươi chín. Giờ đây, giữa nếp nhà thân thuộc, cụ nhẹ nhàng đặt cuộn thước dây và chiếc búa thép nằm ngay ngắn cạnh cuốn sổ ghi chép tọa độ cũ rồi khép nắp hòm lại. Một tiếng “cách” khô giòn điểm nhịp. Sứ mệnh của một đời thợ mở đường, từ dốc núi biên cương ngoài đời thực cho đến vách đá hiểm trở chốn sa bàn, đến lúc này đã hoàn toàn viên mãn.
“Ông cố ơi, ra hiên ngồi hóng gió cho thoáng ạ!”
Tiếng gọi trong trẻo của Khang vang lên từ gian bếp. Chàng trai mười bảy tuổi bưng khay gỗ mộc bước tới, dáng điệu nhanh nhẹn nhưng đầy vẻ kính cẩn. Khang đỡ lấy khuỷu tay cụ San, dìu cụ bước qua ngạch cửa gỗ ra hiên nhà.
Hiên nhà gỗ lộng gió sớm vùng Cao Lộc, thoang thoảng mùi nhựa hồi từ những nong hoa hồi đang phơi mình đón nắng. Khang đặt khay xuống bàn, cẩn thận rót nước nóng vào ấm trà gốm nung. Mùi trà hoa hồi sấy khô bốc lên nghi ngút, thơm nồng nàn vị cay ngọt ấm áp đặc trưng của núi rừng Đông Bắc.
Khang hai tay dâng chén trà bốc khói lên trước mặt cụ cố:
“Cháu mời ông cố dùng trà ạ. Trà hoa hồi vụ sớm mẹ cháu mới sấy tối qua, thơm và ngọt hậu lắm.”
Cụ San đón lấy chén trà, cảm nhận hơi ấm lan tỏa qua lòng bàn tay chai sần:

Bình luận chương 0
Đăng nhập để tham gia bình luận.
Đang tải bình luận…