Lớp Men Tro Củi Đập Tan Trò Bịp Lò Gốm Sứ
Chương 10: Bảo Chứng Vảy Cá
Mặt trời đứng bóng sang ngày thứ ba. Lớp bùn non trát cửa lò cóc sau bốn mươi tám giờ ủ nhiệt đã khô cong, rạn nứt thành những mảng xám ngoét như vảy trăn. Gió từ triền sông Lam thổi thốc vào khoảng sân xưởng, mang theo hơi nước mát rượi xua đi cái oi nồng còn vương vất.
Cụ Dưỡng Hữu Bằng chống gậy tre đứng bên gốc nhãn cổ, khẽ đưa tay áo nâu sồng gạt mấy sợi tóc bạc lòa xòa trước trán. Cụ bước lại gần, áp lòng bàn tay chai sần lên vách đất của lò cóc. Hơi ấm truyền qua thớ da dẻo dai chỉ còn ram ráp như thân người vừa dứt cơn sốt nhẹ.
— Lò đã nguội thuận lẽ tự nhiên, khí lạnh bên ngoài nỏ thể làm nứt xương gốm được nữa. Tháo bùn, dỡ gạch đi các con!
Lời cụ Bằng vừa dứt, Dưỡng Văn Thắng cùng mấy người thợ trẻ trong xóm Lò liền xăm xắn xách xô nước, dùng chổi rơm nhúng nước quét mềm lớp bùn trát ngoài mép gạch. Bà con chòm xóm hay tin lò nung thử nghiệm mở cửa cũng túa ra đứng chật kín mé hiên, ai nấy nín thở dõi theo từng nhát bay sắt cạy vữa.
Thắng khom lưng rút viên gạch mộc đầu tiên nơi cửa lò. Một làn hơi ấm dịu mang mùi tro tràm thanh khiết phả ra dìu dịu. Từng viên gạch đỏ quạch được chuyền tay nhau đặt nhẹ xuống nền đất. Khi cửa lò mở toang một khoảng vừa vặn, Thắng dùng hai tay trần cẩn thận bê chiếc bao nung bằng đất chịu nhiệt đặt lên chiếc chõng tre giữa sân.
Mọi cặp mắt đều dồn cả vào nắp bao nung còn bám đầy bụi tro xám. Cụ Bằng bước chậm rãi tới mé chõng tre, bàn tay run run nhấc chiếc nắp gốm tròn sang một bên.
Ánh nắng ban trưa rọi thẳng vào lòng bao nung. Không một tiếng nứt nẻ, không một vết sùi mốc. Chiếc bình hoa dáng củ tỏi cùng bộ chén con hiện ra sừng sững, phát ra thứ ánh sáng ngời ngợi khiến cả góc sân đang ồn ào bỗng chốc im phăng phắc.
Thắng nấc lên một tiếng nghẹn ngào, hai mắt đỏ hoe:
— Cụ ơi… men… men lên rồi cụ ơi!
Cụ Bằng run rẩy luồn những ngón tay vẹo vọ vào ôm lấy thân chiếc bình hoa, cẩn trọng nhấc bổng lên khỏi lòng bao. Thân bình tròn lẳn, thon dần về phía cổ, cốt gốm đanh chắc như ngọc thạch. Trên nền đất sét trắng bãi bồi tinh khiết, lớp men tro tam hợp nung đủ độ lửa hiện lên một sắc xanh rêu trầm mặc, thoảng ánh vàng chanh óng ả tựa màu lá tràm non đón nắng mai. Nhưng kỳ diệu hơn cả là khắp thân bình, những đường vân rạn vảy cá sâu hoắm đan cài chằng chịt, lớp nọ gối lên lớp kia rõ mồn một như vảy cá chép vượt vũ môn.
Cụ Bằng đưa ngón tay trỏ gõ nhẹ một tiếng “đanh” vào vành miệng bình.
Âm thanh trong vắt, ngân vang rền rĩ như tiếng chuông khánh nhà thờ họ trong sớm mùng một Tết, lan tỏa qua rặng tre xào xạc rồi vọng mãi ra tận mé sông bãi bồi.
— Lạy trời đất tổ tiên! — Mấy cụ già trong xóm Lò chắp tay xuýt xoa, nước mắt rơm rớm trên khóe mi nhăn nheo — Men tro tiến kinh thuở nào của họ Dưỡng ta đã sống lại thật rồi!
Đúng lúc ấy, tiếng cổng tre ngoài ngõ bị đạp mạnh nghe rầm một tiếng khô khốc.
Dưỡng Hữu Trọng nghênh ngang sải bước vào sân, chiếc áo âu phục tây màu mỡ gà lụng thụng bay phần phật, mùi nước hoa tây nồng nặc át cả hương tràm ấm áp. Theo sau hắn là bốn gã sai vặt mặc áo cộc tay, mặt mày bặm trợn, tay lăm lăm thước dây và cọc gỗ đóng dấu sơn đỏ của Công ty Liên doanh Tân Á.
— Đã quá cữ trưa rồi đấy! — Trọng cất giọng the thé, rút tập giấy khế ước nợ đập đập vào lòng bàn tay — Mười lăm triệu bạc đâu đưa ra đây? Không có tiền mặt thì cuốn xéo hết ra ngoài cho người của sếp Đại vào cắm cọc, đóng dấu ranh giới mười lăm sào bãi sét!
Đám thợ trẻ lập tức siết chặt nắm đấm, toan xông lên nhưng cụ Bằng đã giơ cao cánh tay áo nâu ngăn lại. Cụ đứng thẳng lưng, đôi mắt sáng quắc nhìn xoáy vào mặt gã cháu họ:
— Anh Trọng, mắt anh mở to ra mà nhìn cho rõ đây là thứ chi!

Bình luận chương 0
Đăng nhập để tham gia bình luận.
Đang tải bình luận…