Lớp Trấu Ủ Băng Cứu Kho Thuốc Mùa Lửa
Chương 6: Vách Đôi Đầm Trấu
Nắng quái rọi xiên xuống chân đồi, hai bóng người lảng vảng nơi đầu cầu gạch vẫn ngửa cổ ngó nghiêng lên triền dốc Động Thạch Lương. Cụ Thạch Chấn Du nheo đôi mắt đã mờ đục vì năm tháng, bàn tay chai sần siết nhẹ thân gậy tre.
Ba Vạn bước vội lại gần, quệt ngang giọt mồ hôi trên gò má đỏ au, giọng bực dọc:
— Cụ Du, lũ tay chân của hiệu buôn Tiền Đức rình mò nãy giờ. Hay để con dẫn mấy đứa tráng đinh xuống nện cho chúng một trận rồi đuổi đi?
Cụ Du lắc đầu, nét mặt trầm tĩnh:
— Chớ manh động, chú Ba Vạn. Chúng muốn ngó thì cứ để chúng ngó. Trong mắt phường Mã Báo, vỏ trấu chỉ là thứ rơm rác phế thải sau mùa gặt, xưa nay chẳng ai rỗi hơi đi cướp trấu làm gì. Mình càng rầm rộ xua đuổi, chúng lại càng sinh nghi. Việc của làng mình cứ đường hoàng mà làm.
Nghe cụ dặn dò thấu đáo, Ba Vạn gật đầu rồi quay lại thúc giục mọi người tiếp tục công việc. Cụ Du chống gậy bước đến tảng đá nhẵn đầu cửa động ngồi xuống nghỉ chân. Trước mắt cụ, một cảnh tượng điền viên ấm áp hiện ra giữa trưa hè bỏng rát. Cả một vệt dốc núi rộn rã bước chân của bà con già trẻ. Từng đôi bồ trấu khô vàng rộm kĩu kịt trên vai những tráng đinh vạm vỡ, mồ hôi ướt đẫm vạt áo nâu. Mấy cụ già lưng còng cũng chống gậy theo sau, tay xách giỏ tre đựng trấu vụn. Lũ trẻ con ríu rít chuyền tay nhau những ấm nước chè xanh om lá vối đặc quánh.
Tiểu Thạch thoan thoắt bưng bát sành nước chè xanh bốc khói dìu dịu đến bên tảng đá, lễ phép hai tay dâng lên:
— Ông nội uống bát nước cho đỡ khát họng. Nước chè bà Tư đầu làng mới om đấy ạ.
Cụ Du đỡ lấy bát sành, nhấp một ngụm chè chát ngọt, lòng dâng lên niềm ấm áp khó tả. Tình làng nghĩa xóm chốn thôn dã mộc mạc như hạt lúa củ khoai, khi hoạn nạn lại đùm bọc, sẻ chia từng giọt nước mát lành.
Chờ bà con tập kết trấu đầy ắp trước cửa hang, cụ Du chống gậy đứng dậy, bước vào lòng động. Khu vực rãnh thoát nước ngưng mà Ba Vạn và đám thanh niên đào từ ban sáng đã hoàn thành, lòng rãnh sâu đúng một gang tay, rải kín những viên sỏi cuội suối tròn nhẵn, phẳng phiu.
— Chú Ba Vạn, gọi nhóm thợ tre vào đây, — cụ Du lên tiếng.
Ba Vạn cùng bốn người thợ mang theo những thân tre đực già óng ả và các tấm liếp đan dày bước vào. Cụ Du dùng gậy tre chỉ vào khoảng nền đá bằng phẳng nằm lọt giữa các rãnh sỏi:
— Giờ ta dựng thành quách cho khối băng. Các chú chôn cọc tre thật chắc, đóng giằng nẹp kỹ lưỡng để dựng hai lớp liếp tre bao quanh khu vực đặt thuốc. Nhớ lấy thước đo cho chuẩn: vách trong và vách ngoài phải cách nhau đúng hai thước.
Một người thợ tre ngập ngừng:
— Thưa cụ, bình thường làm cót quây thóc người ta chỉ làm một lớp liếp mỏng. Sao mình lại phải dựng vách đôi dày đến hai thước như thế này ạ?
Cụ Du cười hiền từ, kiên nhẫn giảng giải:
— Một lớp liếp thì gió hè thổi qua là lọt khí. Hai lớp liếp tre tạo thành một cái hòm rỗng khổng lồ. Khoảng trống hai thước ở giữa chính là nơi ta nhồi trấu vào. Hai thước trấu bổi nén chặt sẽ thành bức tường ngăn hơi nóng ngoài trời bén mảng vào khối lạnh bên trong.
Hiểu ra ngọn ngành, nhóm thợ tre trầm trồ thán phục rồi bắt tay ngay vào việc. Từng đoạn cọc tre đực cắm sâu vào các khe đá, nẹp tre ken dày, chẳng mấy chốc hai khung vách liếp song song, cao ngang đầu người đã sừng sững hiện ra vững chãi.
— Được rồi, bà con mang trấu vào! — Cụ Du cất tiếng.
Từng bồ trấu khô cong, vàng óng được tráng đinh trút rào rào vào khoảng trống giữa hai tầng vách liếp. Bụi trấu bay lên thơm nồng mùi lúa chiêm phơi kiệt nắng.
Cụ Du bước tới sát vách tre, trực tiếp cầm lấy một chiếc chày gỗ cán dài đưa cho Ba Vạn:
— Chú Ba, trút trấu vào đến đâu phải dùng chày gỗ đầm thật chặt đến đấy. Đầm từng lớp dày chừng một gang tay một, không được đổ ào ào một thể.

Bình luận chương 0
Đăng nhập để tham gia bình luận.
Đang tải bình luận…