Mảnh Than Đước Kê Chân Cột Mốc Nam Biên

Chương 20: Khói than đước bến thái bình

Cụ Dư Văn Hiền đưa bàn tay chai sần nhuốm màu khói che trên vầng trán đồi mồi, dõi mắt nhìn ra ngã ba sông Vàm Láng. Chiếc soái thuyền dẫn đầu rẽ sóng lướt tới, mũi thuyền chạm khắc hình chim phụng vươn cao, ngọn đại kỳ ngũ sắc thêu kim tuyến của Chúa thượng tung bay phần phật trong gió sớm. Tiếng tù và rúc từng chập trầm hùng quyện cùng tiếng chiêng đồng, trống lệnh rộn rã mặt nước bãi bồi, xua tan đi vẻ hoang vu, ngột ngạt của cánh rừng ngập mặn muôn đời.

Cà Ná đứng cạnh cụ, bắp tay trái quấn dải vải chàm đã khô mày sẹo, mặt mày hớn hở chỉ tay ra mé sông reo lớn: “Ông Cố ngó kìa! Ghe dinh Long Hồ về thiệt rồi, cờ dong trống mở coi oai phong hết sức!”

Cụ Hiền khẽ mỉm cười, chòm râu bạc phơ dài chấm ngực rung nhẹ theo làn gió chướng. Già này sống qua suốt một trăm hai mươi sáu mùa con nước, từng theo bước chân đoàn quân Lễ Thành hầu Nguyễn Hữu Cảnh xuôi thuyền kinh lý mở cõi năm Mậu Dần, mà đến tận hôm nay mới lại được chứng kiến một ngày hội non sông ấm áp, hào hùng dường này nơi đầu ngọn sóng bãi bồi.

Đoàn thuyền tuần sai của triều đình áp mạn vào doi đất cồn cát vừa bồi chặt. Dân phu các xóm lò than U Minh, phường đáy cá cùng cấm binh và quân phiên Chân Lạp nhất tề reo hò dậy đất. Hàng loạt pháo thăng thiên châm ngòi rít lên xé gió, nổ giòn tan trên nền trời xanh biếc, bung ra những làn khói hoa rực rỡ lấn át cả mùi phèn mặn. Giữa doi đất cao ráo, trụ đá hoa cương ngàn cân đứng thẳng tắp uy nghi đón nắng mai, chân bệ ghì sâu vào khối than đước dày ba thước kinh vững chãi tựa thái sơn.

Một viên khâm phái từ Đồn dinh Long Hồ áo mão chỉnh tề bước lên bờ, trịnh trọng mở tráp sơn son trao chiếu thư của Chúa thượng cho Bùi Doãn Tường. Chàng Khâm sai hai mươi sáu tuổi quỳ tiếp chỉ, gương mặt phong sương ngời sáng vẻ cương nghị của bậc lương thần hết lòng vì xã tắc.

Đại lễ tạ đất khánh thành cột mốc Nam biên cử hành trong khói trầm ngào ngạt. Cụ Hiền chậm rãi bước tới trước chân bia đá, kính cẩn đặt chiếc bát sành da lươn sứt miệng lên gờ đá hoa cương xám lạnh. Trong chiếc bát sành kỷ vật thiêng liêng mang theo từ thuở mở cõi năm Mậu Dần, dòng rượu nếp hoa vàng sóng sánh tỏa hương thơm. Cụ Hiền cùng Doãn Tường và Nặc Sô nâng vò rượu, tưới đều lên bốn góc móng than đước chôn sâu dưới bùn mặn, tạ ơn anh linh trời đất và tiền nhân đã chở che cho tấc đất bờ cõi ngàn năm đứng vững.

Nghi lễ vừa dứt, Doãn Tường quay người lại. Trước sự ngỡ ngàng của quan viên triều đình và hàng trăm dân phu, chàng khâm sai trẻ tuổi gập tà áo thô nhuốm màu bùn phèn, quỳ sụp xuống nền đất phù sa ngay trước mặt cụ Hiền, dập đầu cung kính: “Cụ Bác! Nếu không có trăm năm lịch duyệt của cụ, không có lớp than đước ngậm lửa yếm khí và tấm lòng trời biển của bà con xóm đước, thì dẫu tiểu chức có trăm pho kinh thư, vạn thước tầm xích cũng đành bất lực nhìn cột mốc chìm sâu vào bùn lầy bão mặn. Xin cụ nhận của Doãn Tường ba lạy tạ ơn công đức mở cõi giữ bờ muôn thuở!”

Cụ Hiền vội bước tới, dùng đôi bàn tay chai sạn đỡ lấy hai vai Doãn Tường, nâng chàng đứng dậy. Nhìn sâu vào ánh mắt trong trẻo, rạng ngời của người nho sinh kinh kỳ, lòng cụ dâng lên niềm xúc động khôn xiết. Cụ vỗ nhẹ lên vai chàng, giọng khàn trầm mà ấm áp: “Thầy Khâm sai đừng lạy già này! Đất đai sông núi là của tiên tổ để lại, cõi bờ đứng vững là nhờ mồ hôi của trăm họ và ý chí của triều đình. Thầy biết cúi mình nghe hơi thở của bùn phèn sình lầy, thương lấy từng giọt mồ hôi lưu dân khẩn hoang, ấy mới là cái gốc bền chặt của phép nước. Đứng lên đi con! Non sông này có những người vì dân vì nước như thầy, cõi biên thùy muôn đời chẳng lo dời mốc!”

Doãn Tường nghẹn ngào đứng dậy, chắp tay bái tạ rồi quay lại trước thềm bia đá hoa cương, dõng dạc tuyên đọc quyết dụ của triều đình trước muôn dân: Toàn bộ trắc đồ định ranh vùng Tầm Phong Long dài mười hai dặm chính thức được Chúa Võ Vương chuẩn y, hòm địa bạ sơn son bọc da thú được cấm vệ niêm phong cẩn mật để chuyển về kinh đô Phú Xuân phục mệnh. Những bè cọc mốc gỗ trắc giả mạo cùng tờ khế ước bán cõi của Hương cả Mãnh đã được giao cho hình ty thẩm lý; bản án lưu đày viễn xứ và tịch thu toàn bộ gia sản phi nghĩa của gã cường hào gian ác đã được định đoạt, vĩnh viễn quét sạch bóng tối gian tham đè nặng bấy lâu.

Đặc biệt, dải đất bãi bồi Vàm Láng màu mỡ nay được triều đình giao trọn quyền quản lý cho xóm lò than và dân nghèo sở tại khai canh lập ấp, miễn trừ sưu thuế tạp dịch trọn ba năm để an cư lạc nghiệp.

Lời chiếu vừa dứt, tiếng reo hò mừng rỡ của bà con lưu dân bùng lên vang dội cả khúc sông. Những thợ lò than, những người đốn củi lam lũ ôm chầm lấy nhau, nước mắt nghẹn ngào rớt xuống thềm phù sa màu mỡ. Ách cường hào hà khắc bao năm nay đã tan thành mây khói, mở ra cuộc sống no ấm, tự do cho con cháu mai sau.

Đăng nhập để thả tim Đăng nhập để tương tác

Ủng hộ tác giả Khánh My
Mỗi lời động viên là động lực để tác giả tiếp tục sáng tác.

Khánh My

Tác giả của câu chuyện này · Hãy cùng ủng hộ những chương tiếp theo.

Đăng nhập để theo dõi

Bình luận chương 0

Đăng nhập để tham gia bình luận.

Đang tải bình luận…