Mồi Lửa Diêm Tiêu Đốt Rực Chí Linh
Chương 4: Mệnh Lệnh Mười Ngày
Mảnh gỗ thô rơi huỵch xuống nền đất nhão, tiếng đao chém của Đinh Lễ đè nặng lồng ngực Bàng Khắc Thiệu. Quân lệnh mười ngày đêm vang lên đanh thép giữa lều trung quân, sắc lạnh như lưỡi thép vừa tuốt khỏi bao. Mười ngày để chế ra hỏa dược chịu mưa phùn gió bấc, bắn thủng giáp giặc; bằng không, hỏa doanh bị xóa sổ, thợ thuyền bị chém đầu hoặc sung vào đội cảm tử mở đường máu.
Thiệu quỳ rạp xuống nền đất buốt giá, cất giọng trầm chắc:
“Thảo dân xin lĩnh quân lệnh! Mười ngày đêm, dẫu nung đá gạn tro đến kiệt sức, kẻ hèn này quyết không phụ sự ủy thác của Tướng quân và Lam Sơn.”
Đinh Lễ nhìn sâu vào mắt Thiệu, rút thẻ đồng khắc hình đầu hổ trao cho ông:
“Cầm lấy lệnh bài. Bác toàn quyền trưng dụng củi than, nồi gang cùng nhân lực trong trại. Sinh mệnh ba quân phó thác cả vào tay bác.”
Thiệu nhận lệnh bài, cúi đầu tạ từ rồi cùng Đỗ Vạn bước ra ngoài trời gió bấc. Vừa khuất bóng lều chỉ huy, Vạn đã ghé tai Thiệu, giọng run run:
“Thưa thầy, mười ngày đêm... liệu có kịp không? Doanh trại chẳng còn thỏi lưu huỳnh nào, ta biết xoay xở thế nào?”
Thiệu vỗ nhẹ mu bàn tay đệ tử:
“Có lệnh bài của Tướng quân, trước hết phải dựng lò gạn tiêu. Đi theo ta tới kho hậu cần nhận chõ gang và vật tư.”
Hai thầy trò men theo chiến hào lầy lội đến kho quân nhu nép dưới vách đá. Phạm Tích đón họ ở cửa kho, đôi mắt ti hí đảo lia lịa khi thấy chiếc thẻ đồng trên tay Thiệu.
“Bác Thiệu lĩnh được đại quyền rồi đấy à?” – Tích xoa tay khúm núm, nhưng giọng điệu lại chua cay.
“Tôi đến lấy hai chiếc chõ gang, ba tấm vải gai và khẩu phần củ mài, muối hạt cho nhóm thợ.” – Thiệu chìa thẻ lệnh, giọng đanh chắc.
Tích lôi ra hai chiếc chõ sứt cùng mấy khúc củ mài xơ xác và nhúm muối xám lẫn bùn. Gã ghé sát tai Thiệu, thì thào:
“Mười ngày chớp mắt là hết, bác ơi. Ba vạn quân Minh vây kín núi, súng thần cơ nổ rung vách đá, nhìn mấy khúc củ mài nuốt chẳng bõ dính răng này thì lấy đâu sức nung đá? Khéo chưa hết hạn, hỏa dược tịt ngòi, đầu bác với lũ trẻ này đã rơi trước đao Tướng quân, hoặc bị xua vào đội cảm tử đỡ đạn chì! Chi bằng tính đường khác...”
“Câm miệng!” – Vạn nghiến răng, chực lao tới túm cổ áo Tích.
Thiệu giơ tay chặn ngang ngực đệ tử, quắc mắt nhìn gã nội gian:
“Chú Tích lo việc kho cho tròn phận. Đầu ta và lũ trẻ có rụng hay không là việc của hỏa doanh, chưa đến lượt chú khóc mướn. Nuốt lời gièm pha ấy lại trước khi đao quân pháp hỏi đến!”
Nụ cười giả lả của Tích cứng đờ. Gã chột dạ lùi bước rồi lủi vào bóng tối kho hàng. Nhưng lời độc địa của gã đã kịp khiến hai người thợ trẻ vừa tới đỡ đồ run rẩy, ánh mắt lộ rõ vẻ hoang mang trước chiếc thẻ đồng sinh tử.
Thiệu ra hiệu cho nhóm thợ khiêng chõ gang tiến về bìa rừng dưới chân vách đá tai mèo – nơi khuất gió bấc và dễ tản khói vào sương mù.
“Dựng lò!” – Thiệu lệnh ngắn gọn.
Cả nhóm đào đất sét, trộn cỏ khô đắp lò dã chiến hình vòm. Đỗ Vạn cùng hai phụ tá trèo lên các gờ đá tai mèo nhô ra bìa rừng, cạo hoa muối trắng xốp cho vào gùi tre.
Gió núi rít từng cơn lạnh buốt. Bàn tay chai sẹo của Thiệu thoăn thoắt hòa hoa muối vào chõ nước tro nóng, khuấy đều rồi đổ qua nhiều lớp vải gai để lọc cặn bẩn. Nước trong được chuyển sang chõ thứ hai đặt trên than hồng để cô đặc.
Hơi nước nghi ngút quyện mùi khét nồng của bùn đất. Đến nửa đêm, lớp bột diêm tiêu đầu tiên mới kết tinh dưới đáy chõ. Thiệu cẩn trọng cạo lấy lớp bột trắng đục, sấy khô trên phiến đá hơ lửa rồi phối trộn với bột than củi theo đúng tỷ lệ gia truyền.
“Thử lửa!” – Thiệu bảo.

Bình luận chương 0
Đăng nhập để tham gia bình luận.
Đang tải bình luận…