Mũi Dùi Xuyên Đốt Trúc Nghe Hồn Tượng
Chương 25: Tiếng Đục Bến Sông
Sớm hôm sau ngày rằm tháng Tám, nắng thu hanh vàng trải rộng trên những nếp ngói rêu phong làng Thọ Am. Cơn ác mộng kéo dài suốt mấy tháng ròng rã dường như đã tan biến theo làn sương mỏng trên dòng sông Đáy, trả lại cho vùng quê ven bãi bồi bầu không khí thanh sạch, yên bình.
Tại sân đình Thọ Am, tiếng người râm ran rộn rã. Trước sự tề tựu của các bậc bô lão và bà con xóm trại, thầy đồ Đặng Khắc Lượng bước ra mép thềm đá, nâng cao tờ khế ước gốc năm sào đất bến sông viết chữ Chân thư cùng tờ trát triện son của quan Tri huyện vừa tống đạt.
Hắng giọng một tiếng rõ to, thầy đồ Lượng dõng dạc cất lời:
— Thưa bà con làng nước! Kẻ thủ ác Bá hộ Chu đã bị tước mũ áo chịu án lưu đày biệt xứ, thợ Quát phải đền tội nơi phủ huyện. Nay quan trên chuẩn y lời thỉnh cầu của cụ trùm Đạt và xóm thợ: năm sào đất bồi ven bến đò của chú Trần Hữu Sinh được sung vào việc nghĩa của làng! Nơi ấy sẽ lập trạm cứu tế, phát chẩn cho kẻ cơ hàn và mở bến đò nghĩa tình chở che dân nghèo qua sông không lấy một đồng kẽm, đúng như tâm nguyện của chú!
Sân đình vỡ òa trong tiếng reo hò. Những bàn tay thợ mộc chai sần nắm chặt lấy nhau, nước mắt lăn dài trên gò má bao người nghèo khó. Cụ bà Then đứng cạnh cột đình chắp tay run run khấn tạ đức từ bi của Thánh Mẫu. Đứng bên mép thềm, cụ Vu Thành Đạt khẽ vuốt chòm râu cước buông dài, khóe mắt già nua lấp lánh niềm xúc động. Vậy là linh hồn người học trò thảo hiền đã có thể ngậm cười yên nghỉ, mảnh đất cha ông để lại trở thành chốn nương tựa cho muôn mảnh đời cơ cực.
Rời sân đình, cụ Đạt cùng cháu nội Vu Đình Cảnh trở về xưởng mộc họ Vu. Ánh nắng ban trưa rọi qua giàn mướp hoa vàng, rắc những vệt sáng ấm áp lên bệ thợ lim nhẵn bóng. Mùi mạt cưa gỗ mít quyện cùng hương gỗ trắc quen thuộc xua tan mọi giá lạnh của những đêm giông bão cũ.
Cụ Đạt bước vào gian thờ tổ nghề Lỗ Ban khói trầm nghi ngút. Cụ chậm rãi mở bọc vải điều giắt bên ngực áo, lấy ra cây đục cán sừng trâu gia bảo của Trần Hữu Sinh. Lưỡi thép xanh đen sắc lẹm, trên chuôi sừng trâu chạm vân mây còn vương chút sáp ong vàng niêm phong nơi hộc rỗng.
Cụ già trăm tuổi hơ nhẹ đốc đục qua ngọn đèn hoa kỳ. Lớp sáp ong chảy mềm, cụ lấy vạt áo vải thô lau sạch từng kẽ chạm trổ cho đến khi chuôi sừng trâu bóng loáng, ánh lên sắc đen thăm thẳm. Cụ Đạt nâng cây đục bằng cả hai tay, kính cẩn đặt lên bệ thờ tổ nghề Lỗ Ban, ngay dưới chân bài vị tổ sư.
Cụ Đạt ngước nhìn làn khói hương, trầm giọng khấn:
— Lạy đức thánh tổ Lỗ Ban chứng giám! Thằng Sinh là đứa trò ngoan, một lòng giữ trọn thiên lương và danh dự người thợ mộc. Nay cây đục sừng trâu này xin được gửi lại nơi bệ thờ tiên tổ họ Vu, để đời đời con cháu xóm trại trông vào mà răn mình, biết giữ cái tâm trong sạch trước mọi cám dỗ vàng bạc.
Vu Đình Cảnh đứng chắp tay phía sau, đôi mắt đỏ hoe kính cẩn cúi đầu.
Đoạn, cụ Đạt quay sang chiếc hòm gỗ lim cổ ba đời đặt góc gian thờ. Cụ tra chìa đồng mở khóa, nắp hòm bật mở giòn giã. Cụ đưa tay lấy ra chiếc dùi thép rãnh máng dài đúng thước hai. Thân dùi thép sáng lạnh, chiếc chuôi gỗ mun bịt đồng thau chạm hoa cúc từng xuyên qua mắt trúc nén tử khí để vạch trần tội ác tày trời dưới chân tòa sen đền Cây Đa Vàng.
Cụ rót vài giọt dầu trẩu vàng óng vào miếng lụa bạch. Đôi bàn tay gân guốc tỉ mẩn xoa dầu khắp thân dùi, miết dọc theo rãnh máng rỗng tâm thông suốt từ đầu nhọn đến đốc chuôi. Lớp dầu trẩu óng ả ngấm vào thớ thép, biến mũi dùi thành một dải lam quang sáng quắc, sạch bong không còn vương chút bụi trần.

Bình luận chương 0
Đăng nhập để tham gia bình luận.
Đang tải bình luận…