Mùi Sơn Ta Rỉ Máu Sau Khám Thờ

Chương 9: Mảnh Ngọc Chữ Bạch

Tiếng thở dài ai oán của người phụ nữ tựa luồng gió buốt từ cõi âm luồn qua khe liếp, thổi rợn gáy Chúc Đình Tín. Làn khói xám bốc lên từ kẽ nứt chân tường sủi bọt trắng xóa dần lắng xuống, để lại một vệt ố đen ngòm nồng nặc mùi tử khí. Lão thợ cả đứng sững giữa bóng tối mịt mùng, hai bàn tay chai sần bất giác nắm chặt lấy nhau. Lồng ngực ông đập từng nhịp nặng nề. Hơn bốn mươi năm cầm dao nạo bọc sơn cho hàng trăm pho tượng khắp các chốn linh thiêng xứ Đoan Nam, chưa bao giờ ông thấy một nỗi oan khiên nào đặc quánh và day dứt đến nhường này.

Ông khẽ quay lại nhìn chiếc chõng tre. Tiểu Lạc vẫn nằm im thin thít, hai bàn tay nhỏ bé siết chặt mép áo chàm, trước ngực là chiếc túi gấm đựng bột Thanh Lược Giải Độc Tán đang tỏa ra mùi thảo mộc dịu nhẹ. Đứa trẻ hiểu chuyện đến đau lòng, dẫu sợ hãi đến run rẩy vẫn cắn chặt môi không dám phát ra nửa tiếng động. Chúc Đình Tín bước khẽ tới bên chõng, đặt bàn tay ấm áp xoa nhẹ lên mái tóc xơ xác của đứa cháu côi cút, ghé tai thì thầm:

“Tiểu Lạc, đừng sợ. Trời có mắt, đất có linh, người ngay thẳng ắt có tổ nghề che chở.”

Đêm trôi qua trong sự im lìm ngột ngạt.

Khi ánh ban mai xua tan màn sương lam đặc quánh của núi rừng Thanh Khê, Thâm Uyển hiện ra trơ trọi giữa một bầu không khí u uất. Bốn tên gia đinh mặt mày tái xám vì chướng khí vẫn lăm lăm gậy gộc án ngữ ngoài hàng rào trúc gai và vông gai, nhưng tuyệt nhiên không tên nào dám bước qua bậc cửa chái tây. Đến giờ Thìn, Đặng Phúc sai người ném qua khe cửa liếp vài vắt cơm nguội độn khoai cùng một bầu nước lã. Giọng the thé của tên quản gia rít qua kẽ gỗ như tiếng chuột rúc:

“Ông Tín! Hôm nay đã là ngày thứ năm rồi đấy! Lão thái gia phân phó, liệu mà dốc sức dọn sạch vết nứt rồi lên lớp sơn mới cho kịp rằm. Nếu chậm trễ đại lễ tế tổ, đừng trách Nghiêm phủ cạn tình cạn nghĩa!”

Chúc Đình Tín không đáp lời, chỉ lặng lẽ nhặt bầu nước lên kiểm tra. Bằng khứu giác từng trải của kẻ cả đời ngửi nhựa sơn, ông nhận ra bữa cơm này không có mùi hoa mạn đà la hay cỏ đoạn hồn như đêm trước. Đặng Phúc sau một đêm lục soát hòm đồ nghề bất thành có lẽ đang tạm thời kiềm chế để ép ông làm cho xong việc.

Chia nửa vắt cơm cho Tiểu Lạc và dặn cháu ngồi trông nồi nước lá chàm bên bếp than, Chúc Đình Tín thắp ngọn bấc trên đĩa dầu mè rồi quay lại gian từ đường.

Hôm nay đã bước sang ngày thứ năm. Thời hạn mười ngày do Nghiêm Bá Hoài ấn định trôi qua một nửa như cát chảy qua kẽ tay.

Trước mắt ông, pho tượng hộ pháp cao sáu thước sừng sững ngự trong khám thờ gỗ thị u tối. Vết nứt dài hai thước nơi ngực trái vẫn âm ỉ rỉ ra từng vệt huyết dịch sền sệt, đen kịt như máu đọng đáy mồ. Lớp vàng quỳ và lớp sơn son bên ngoài đã bị bóc tách, để lộ những mảng sơn then đen nhánh cùng lớp vải xô gai bết dính tóc người tẩm mỡ thối rữa mà ông đã xử lý hôm trước.

Hôm nay, ông phải dồn toàn bộ tâm lực nạo sâu vào tầng sơn hom thứ năm.

Trong nghề sơn ta cổ pháp, đây là lớp bọc cốt hiểm hóc và kiên cố bậc nhất. Tầng hom thứ năm không dùng mùn cưa thông thường, mà được nhào nặn công phu từ bùn ao cổ ngâm ngấu qua nhiều năm, trộn với tro rơm nếp rây mịn, mật mía đặc quánh và nhựa sơn sống nguyên chất. Khi lớp hồ hom này khô kiệt, nó sẽ kết thành một khối trơ cứng như đá tảng, có khả năng ngăn nước, ngăn gió tuyệt đối, phong kín mọi sinh khí lẫn tử khí của vật thể bên trong suốt hàng trăm năm.

Thế nhưng, thứ bùn hom đang nằm dưới lưỡi dao của ông Tín lại toát ra mùi hôi ủng dị thường. Vị ngọt gắt của mật mía biến chất quyện chặt với mùi bùn tanh và hỏa độc nồng nặc của sơn sống khiến không khí quanh bệ thờ trở nên ngột ngạt như bị bóp nghẹt.

Chúc Đình Tín quệt chút cao thảo mộc hộ thân lên hai cánh mũi, hai bàn tay đen đúa nắm chặt cán dao nạo bằng thép tôi nguội uốn cong hình lá lúa. Lão thợ cả hít một hơi sâu, điều hòa khí tức, đặt lưỡi dao sắc lẹm tỳ vào thớ nứt rồi dồn lực nơi cổ tay nạo từng đường dứt khoát.

“Sột… soạt… xoẹt…”

Từng dải bùn hom khô khốc bong ra rơi lả tả xuống mặt bệ đá.

Lưỡi dao nạo thép lách sâu vào giữa kẽ hở của tầng hom thứ năm, nơi những sợi vải xô gai cổ xưa đan xen chằng chịt. Bỗng nhiên, một âm thanh giòn tan vang lên giữa gian thờ tĩnh mịch:

“Cạch!”

Lực cản đột ngột dội ngược vào chuôi dao làm khớp cổ tay Chúc Đình Tín tê rần. Ông giật mình khựng lại. Cốt gỗ mít dẫu già dặn đến đâu cũng chỉ dẻo quánh và trầm đục, tuyệt đối không thể phát ra tiếng kêu đanh gọn tựa kim thạch va chạm như thế này.

“Có vật lạ!”

Tim đập thình thịch, Chúc Đình Tín vội buông dao nạo. Ông với tay lấy chiếc chổi lông thỏ mềm trong túi vải, cẩn trọng quét sạch lớp bụi rơm rạ và vụn bùn đen bám quanh vết nứt. Nâng đĩa đèn dầu mè sát lại gần thớ gỗ, mắt ông nheo lại dưới ánh lửa vàng leo lét.

Kẹp chặt giữa tầng bùn hom và hai lớp vải xô gai rách tơi tả là một mẩu đá nhỏ lấp lánh ánh xanh biếc tựa ngọc phỉ thúy. Vật phẩm bị lớp keo mật mía cùng huyết dịch khô két phủ kín một góc, nhưng sắc ngọc trong vắt vẫn ánh lên dưới làn khói mờ ảo.

Dùng chiếc kẹp tre gắp tỉ mỉ, ông Tín khéo léo bẩy mẩu vật ra khỏi kẽ nứt.

Đó là một mảnh ngọc bội vỡ góc, lớn chừng nửa đốt ngón tay cái, các cạnh gãy nham nhở như bị một lực đập cực mạnh nghiền nát.

Nhìn kỹ vào góc nhọn của mảnh ngọc, đồng tử Chúc Đình Tín co thắt lại. Găm chặt vào kẽ nứt của phiến ngọc là những sợi chỉ bạc đứt đoạn, bện chặt vào thớ vải xô gai và một mẩu vải lụa tơ tằm cổ xưa màu thiên thanh – thứ vải lụa quý phái của các bậc khuê các giàu sang.

Đăng nhập để thả tim Đăng nhập để tương tác

Ủng hộ tác giả ai4
Mỗi lời động viên là động lực để tác giả tiếp tục sáng tác.

ai4

Tác giả của câu chuyện này · Hãy cùng ủng hộ những chương tiếp theo.

Đăng nhập để theo dõi

Bình luận chương 0

Đăng nhập để tham gia bình luận.

Đang tải bình luận…