Mười Mối Nan Tre Bện Lại Tình Thâm
Chương 17: Lao vào cuồng lưu
Tiếng thét xung trận vừa dứt, chiếc bè luồng đại trượt ầm ầm trên dải bùn mé gò, lao thẳng xuống dòng sông Mã. Cột nước phù sa đỏ ngầu bắn lên trắng xóa, làm ướt đẫm vạt áo cụ Sơn đang đứng tựa gậy trên gờ đất cao. Chiếc bè chao đảo giữa lớp sóng cồn rồi nhanh chóng nổi bồng bềnh, rẽ dòng cuồng lưu lao về phía hạ lưu.
Gió bấc rít từng hồi qua rặng tre ngà trơ trụi trên bãi bồi, cuốn theo hơi nước buốt lạnh. Cụ Cầm Văn Sơn tỳ chặt tay lên chiếc gậy luồng để giữ thăng bằng. Bắp vai trái vừa rịt lá mơ lông hãy còn nhói buốt, nhưng cụ chẳng buồn để tâm. Bàn tay còn lại khẽ chạm vào bọc vải dầu buộc chéo trước ngực. Nếp vải vẫn khô ráo, giữ trọn bức thư trăn trối của người vợ quá cố, truyền sang lồng ngực cụ luồng hơi ấm thiêng liêng.
Bên cạnh, thím Nhẫn chắp tay trước ngực, miệng lầm rầm khấn vái: — Mô Phật phù hộ độ trì… Bác Sơn ơi, dòng nước dữ dội quá, bè liệu có cản nổi sóng không bác?
Cụ Sơn không đáp, mắt dán chặt vào chiếc bè. Hơn nửa đời gắn bó với bãi bồi sông Mã, cụ hiểu tính nết con nước này hơn ai hết. Nước lũ tháng bảy hung tợn như đàn trâu điên, cuộn sóng đục ngầu chực xé toạc bất cứ thứ gì dám cản đường.
Vừa trôi ra giữa dòng, một con sóng lừng chồm tới đánh sầm vào mạn trái. Cú va đập nghìn cân làm giàn luồng cong oằn, phát ra tiếng ken két rợn người. Nước lũ tràn qua gờ cót dội vào khoang.
Tim cụ Sơn thắt lại, đôi mắt lão luyện căng ra dõi nhìn các khớp nối.
Dưới sức giằng xé của cuồng lưu, mười mối néo cật luồng bện cùng mây rừng không hề bị bứt đứt. Nhờ độ dẻo quánh của lạt cật ngâm bùn sáu tháng kết hợp góc đan bốn mươi lăm độ gia truyền, lực vặn xoắn của dòng nước biến thành lực ép tự nhiên, thúc đẩy các mối néo tự siết chặt. Mép cật luồng cắn sâu vào thân luồng, các sợi mây rừng co giãn đàn hồi, triệt tiêu hoàn toàn ứng suất cơ học của ngọn sóng dữ. Thân bè lập tức lấy lại thế cân bằng.
Cụ Sơn thở hắt ra một hơi dài, nụ cười đôn hậu khẽ nở trên gương mặt sạm nắng: — Nan mềm mới buộc chặt được sóng to thím Nhẫn ạ… Mười mối néo của tổ tiên giữ vững bè rồi!
— Lạy trời lạy phật! — Thím Nhẫn mừng rỡ reo lên, quệt vội giọt nước mắt lăn trên má.
Mưa lúc này đã ngớt hạt. Từ mỏm gò cao, tầm nhìn của cụ Sơn rõ nét hơn. Cụ nhìn thấy rõ bóng dáng hai đứa con trai đang phối hợp nhịp nhàng trên mặt bè.
Ở đuôi bè, thằng Trọng sừng sững tựa cột đồng. Đôi bàn chân bám chặt sàn cót tre, hai vai vạm vỡ gồng lên cuồn cuộn dưới manh áo công nhân ướt sũng. Đôi tay quen kìm búa ghì chặt cán dầm lái bằng gỗ xoan, dồn toàn lực tỳ vào dầm để bẻ lái chống lại họng xoáy ngầm, giữ bè xuôi đúng tim luồng.
Ở mũi bè, thằng Hải rũ bỏ vẻ lúng túng thường ngày, trở nên nhanh nhẹn lạ thường. Chân đứng dạng chữ đinh, Hải cầm chắc cây sào luồng đực dài gần hai sải tay. Đôi mắt lanh lợi đảo liên hồi, cậu vung sào cắm phập vào mảng bèo tây và súc gỗ mục trôi dạt, đẩy bật chúng ra xa khỏi mũi bè.
Tiếng Trọng gầm lên át tiếng sóng: — Chú Hải! Chếch mũi sang mạn hữu ba tấc! Đè qua doi cát ngầm!
— Rõ rồi anh Trọng! Cứ để em ghì mũi! — Tiếng Hải đáp lại đanh gọn, tin cậy.
Hình ảnh hai người con đứng bên nhau khiến sống mũi cụ Sơn cay xè. Mới tối qua thôi, chúng nó còn giẫm nát chiếc giỏ nan gia bảo, tuyên bố đoạn tuyệt tình anh em. Vậy mà giờ đây, giữa lằn ranh sinh tử, tình máu mủ lại bện xoắn keo sơn như những cọng lạt cật luồng cụ đã dạy. Đạo lý “nan mềm buộc chặt” đã cứu chiếc bè, và cứu cả gia đình cụ.

Bình luận chương 0
Đăng nhập để tham gia bình luận.
Đang tải bình luận…