Mười Mối Nan Tre Bện Lại Tình Thâm
Chương 23: Bàn giao tang vật
Bước chân Cầm Văn Trọng khựng lại ngay sau lưng em trai. Giữa bãi đất nham nhở váng phù sa, anh nhận ra dáng đứng chết trân bất thường của Hải. Cả người thằng bé run rẩy như tàu chuối trúng gió độc, đôi mắt dại đi dán chặt vào hố bùn non ngập ngụa nước đọng phía góc chái bếp cũ — nơi từng kê chiếc phản gỗ mục đã bị sóng lũ đánh trôi bung dạt.
Trọng khẽ cau mày, tiến thêm hai bước rồi đặt bàn tay to bè, ấm nóng của mình lên bả vai gầy đang run lên bần bật của Hải. Cảm giác đụng chạm đột ngột khiến Hải giật thót, cậu quay phắt lại, bờ môi thâm xì vì ngâm nước lũ mấp máy không nên lời.
— Có chuyện gì thế chú Hải? — Trọng gặng hỏi, giọng trầm và dứt khoát.
Hải nuốt khan một ngụm nước bọt, ngón tay run lẩy bẩy chỉ xuống hố bùn sâu hoắm:
— Anh Trọng… hỏng rồi… Dưới đáy hố bùn này… là bọc tải gai chứa đống van đồng với bánh răng phụ tùng trôi nổi em giấu hôm trước. Lũ cuốn sập gian bếp, đất lún khoét sâu thế kia, lát nữa đội dân quân sục xẻng khơi mương nạo vét thì lộ hết… Người ta mà lập biên bản tội tàng trữ, buôn lậu hàng cấm thời bao cấp thì em rũ tù mất anh ơi!
Nỗi sợ hãi tột cùng khiến mồ hôi lạnh vã ra trên trán Hải, lẫn vào những vệt bùn chưa kịp khô. Trọng nhìn xoáy vào đáy mắt hoảng loạn của em trai. Trong lồng ngực anh, cảm giác giận dữ từng bùng lên ở đêm cãi vã gãy giỏ nan bỗng tan biến, chỉ còn lại sự xót xa của một người anh cả. Trọng siết chặt lấy khớp vai Hải, lắc mạnh:
— Bình tĩnh lại! Đã dám thề trước bàn thờ mẹ đoạn tuyệt buôn lậu thì không việc gì phải sợ. Người ngay không sợ chết đứng. Có gan làm thì phải có gan sửa. Chú trốn chui trốn lủi thì cái tiếng phe phẩy nó ám cả đời, làng trên xóm dưới người ta coi thường thầy, coi thường cái gia phong họ Cầm này. Còn bọc hàng ấy, anh em mình cùng dầm bùn lôi lên, mang thẳng lên Hợp tác xã báo cáo tự giác nộp! Có anh đứng mũi chịu sào cùng chú!
Ánh mắt cương nghị của Trọng như một ngọn đuốc thắp sáng giữa mớ bòng bong tăm tối đang bủa vây Hải. Cậu cắn chặt môi, khẽ gật đầu:
— Em nghe anh. Sống chết em cũng theo anh!
Không chần chừ, Trọng vớ lấy chiếc xẻng sắt dựng bên mé rào cúc tần, còn Hải cầm đoạn cán tre gãy. Hai anh em xắn cao ống quần cộc, lội thẳng xuống hố nước bùn non đặc quánh ngập quá gối. Nước lũ lưu cữu lạnh buốt da thịt, mùi bùn phù sa nồng nặc sực lên mũi. Trọng cẩn trọng dùng lưỡi xẻng sục nhẹ từng nhịp thăm dò, tránh để mép sắt làm sứt mẻ các chi tiết kim loại, còn Hải dầm cả hai cánh tay trần xuống lớp bùn nhão nhoét, mò mẫm quanh bốn góc chân cột bếp cũ.
Những vết cật luồng cứa ở mu bàn tay và ngón cái vừa mới se miệng của hai anh em gặp nước bùn xót buốt như xát muối, nhưng chẳng ai kêu ca một tiếng. Suốt nửa buổi sáng vật lộn dưới hố sâu, bùn non bết chặt lấy mặt mũi, manh áo xanh công nhân vá vai sờn chỉ của Trọng sũng nước trĩu nặng.
Đột nhiên, mũi xẻng của Trọng chạm phải một vật cộm cứng dưới lớp đất sét. Một tiếng “keng” đanh gọn vang lên từ lòng đất.
— Đây rồi! — Trọng khẽ reo, buông xẻng.
Hai anh em cùng nhoài người xuống, mười ngón tay luồn sâu vào lớp bùn dẻo quánh, ôm chặt lấy khối nặng trịch rồi đồng thanh hô nhịp gồng mình kéo ngược lên. Chiếc bao tải gai mục rách tơi tả, nặng trịch bùn đất và kim loại được bốc lên miệng hố, nước đen ngòm rỉ ra thành vệt dài.
Trọng khênh bọc tải gai đặt cạnh giếng thoi ngoài vườn, nơi có vại nước mưa còn sót lại sau lũ. Với bản lĩnh của một người thợ máy cơ khí bậc ba, anh không hấp tấp mà lấy chiếc chổi đót cũ và giẻ rách, cùng Hải cọ rửa tỉ mỉ từng chi tiết bám đầy bùn đất đỏ quạch. Dưới lớp rêu bùn gột rửa, màu vàng thau của kim loại quý dần ánh lên lấp lánh dưới nắng non.
Trọng mở to mắt, tay lần giở từng món đồ, tim đập rộn ràng trước từng đường nét gia công cơ khí. Đây không phải đống phế liệu rẻ tiền mà toàn là linh kiện công nghiệp tinh xảo: bốn chiếc van điều áp tiết lưu bằng đồng thau nguyên khối, hai chục vòng bi bạc đạn chịu lực cao tốc của Liên Xô, sáu bánh răng côn răng nghiêng bằng thép hợp kim chưa hề mòn khía, cùng hàng chục đoạn ống đồng dẫn dầu chịu áp suất cao.
— Trời đất… — Trọng thốt lên kinh ngạc. — Toàn đồ chuyên dụng của trạm bơm máy diesel cỡ lớn! Đợt bão vừa rồi, trạm bơm dã chiến cống tiêu Cồn Cát cháy bạc lót và kẹt vỡ cụm van xả áp suất, Chủ nhiệm Định phải chạy vạy khắp các kho cơ khí huyện mà không tìm đâu ra linh kiện thay thế, hàng trăm mẫu lúa mùa ngoài đồng đang có nguy cơ ngập thối. Chú lấy đâu ra những thứ này?
Hải cúi gằm mặt, giọng lí nhí:
— Mấy tay buôn đường dài ở chợ Sắt Hải Phòng tuồn ra từ kho vật tư công nghiệp nặng, họ bảo em ôm về ga Thanh Hóa sang tay kiếm lời… Ai ngờ bị lừa nợ nần, em sợ quá mới vùi xuống đây.
Trọng thở dài, vỗ mạnh vào lưng em trai:
— Sai thì đã sai rồi, nhưng trời xanh không tuyệt đường sống của người biết hối cải. Đống phụ tùng này nằm trong tay con buôn thì là hàng lậu phạm pháp, nhưng nếu lắp vào máy bơm Hợp tác xã lúc này thì là vàng là ngọc, cứu sống cả vụ mùa của bà con! Đi, anh dắt chú lên gặp Chủ nhiệm Định!
Trọng cẩn thận xếp toàn bộ số phụ tùng đã lau sạch vào một chiếc sọt tre nhỏ, chằng buộc chắc chắn lên poóc-ba-ga chiếc xe đạp Thống Nhất sườn xám. Hai anh em sóng bước đẩy xe vượt qua con đường đất xóm bãi nham nhở dấu chân người và bùn lầy, thẳng tiến lên trụ sở Hợp tác xã Cồn Cát.
Trong căn phòng làm việc lợp mái fibro-xi-măng của Ban quản trị, Chủ nhiệm Vũ Đức Định đang ngồi tựa lưng vào chiếc ghế đẩu, hai ngón tay day day thái dương đầy vẻ mệt mỏi. Trên chiếc bàn gỗ xà cừ cũ kỹ là cuốn sổ bìa da kẹp đầy những tờ giấy báo cáo thiệt hại mùa màng và chiếc kính gọng đồi mồi vừa lau sạch bùn. Bên cạnh, các đồng chí trong ban quản trị đang lo lắng bàn tán về việc máy bơm số hai của trạm tiêu úng vẫn tê liệt vì thiếu phụ tùng thay thế.

Bình luận chương 0
Đăng nhập để tham gia bình luận.
Đang tải bình luận…