Mười Mối Nan Tre Bện Lại Tình Thâm
Chương 4: Mối nan then chốt
Bàn tay thô ráp, lạnh ngắt tóm chặt lấy cổ chân Hải trong bóng tối mịt mùng dưới gầm phản không phải của ai xa lạ, mà chính là của cụ Cầm Văn Sơn. Cơn đau buốt từ các khớp ngón tay phong thấp khiến cụ trằn trọc suốt nửa đêm, vừa chợp mắt thì tiếng mưa dột lộp bộp từ mái rạ góc chái bếp lại đánh thức cụ dậy. Cụ lần mò cúi xuống gầm chiếc phản gỗ mục định kéo chiếc chậu nhôm Liên Xô cũ ra hứng nước, nào ngờ bàn tay sần sùi quờ quạng lại đụng phải một ống chân người ướt sũng bùn đất. Ngỡ kẻ gian khoét vách xóm bãi, cụ Sơn theo phản xạ siết chặt lấy cổ chân người nọ, miệng vừa định cất tiếng tri hô thì một giọng run rẩy nghẹn ngào đã cất lên sát bên tai: — Thầy... con đây, thằng Hải đây thầy ơi!
Tiếng thầm thì thảng thốt như trút cạn hơi tàn khiến cụ Sơn sững sờ. Bàn tay gân guốc lập tức buông lỏng rồi run lên bần bật. Tim cụ đập dồn dập vào lồng ngực gầy guộc, nỗi kinh ngạc lẫn mừng tủi trào dâng đến nghẹt thở. Cụ quỳ hẳn một bên gối xuống nền đất ẩm, run rẩy vươn tay sờ soạng khuôn mặt hốc hác, ướt đẫm mồ hôi của con. Đứa con út bặt vô âm tín suốt mười lăm ngày ròng rã nay lại lén lút chui rúc về nhà như một kẻ trộm giữa đêm khuya. Sợ kinh động đến Trọng đang ngủ ở gian ngoài, cụ Sơn vội nén tiếng thở dài, ghé sát tai Hải thì thào: — Lạy trời lạy phật... Mày làm sao thế này hả con? Mau, nép sát vào góc chái bếp kẻo anh mày thức giấc!
Cụ Sơn lập cập gượng dậy, lần theo vách nứa bước tới chạn bát. Bàn tay phải sưng tấy vì phong thấp, khóe ngón cái rịt tro rơm quấn dải vải xô đau nhức từng cơn khi cụ nhấc chiếc lồng bàn nan giang đã ngả màu cánh gián. Trong chiếc bát sứ Hải Dương sứt miệng còn sót lại vài mẩu sắn luộc độn củ mài nguội ngắt từ trưa. Cụ bưng bát sắn lại, ấn vào đôi bàn tay lạnh ngắt của con: — Ăn tạm đi con, còn mẩu sắn nguội đấy. Nuốt lấy một miếng cho ấm bụng đã rồi nói chuyện.
Dưới ánh trăng suông mờ đục hắt qua khe liếp, cụ Sơn đau xót nhìn con út. Mới nửa tháng bạt mạng mà thằng Hải gầy rộc hẳn đi, hai gò má nhô cao, đôi mắt trũng sâu quầng thâm như kẻ mất hồn. Chiếc áo sơ mi cổ bẻ từng được nó giặt hồ phẳng phiu nay rách bươm một bên vai, bắp tay chằng chịt vết xước rớm máu do gai tre cào. Đôi dép nhựa Tiền Phong mòn vẹt đế, quai đứt phải buộc tạm bằng sợi dây kẽm sắc lẹm cứa sâu vào mu bàn chân lấm lem bùn non. Hải bốc miếng sắn đưa lên miệng, nhai trui trủi rồi nghẹn ứ nơi cổ họng, nước mắt ứa ra ràn rụa. Lòng cụ Sơn quặn thắt xót xa, cụ hạ giọng gặng hỏi: — Mày đi đâu biền biệt nửa tháng trời? Chuyện làm ăn buôn bán tít ngoài Hải Phòng ra sao mà để thân tàn ma dại thế này hả con?
Hải giật thót mình, vội nuốt ực miếng sắn khô khốc, ánh mắt lấm lét nhìn sang góc chiếc phản gỗ nơi giấu bọc tải gai chứa đống phụ tùng đồng nặng trịch. Cậu cắn chặt môi, ấp úng chối quanh: — Con... con theo bạn hàng đi gom chuyến hàng dưới xuôi, chẳng may lỡ độ đường nên chậm trễ. Buôn bán dạo này khó khăn, việc làm ăn trục trặc chút đỉnh thôi thầy... Con tạm về đây lánh mặt ít hôm, chờ bão tan rồi lại tính đường đi tiếp.
Lời giải thích ngập ngừng, vụng về của con không giấu nổi đôi mắt từng trải sáu mươi năm của cụ Sơn. Cụ biết tỏng thằng út đang giấu giếm điều gì đó hệ trọng lắm. Tin đồn về vụ công an kinh tế vây bắt toán buôn lậu phụ tùng ở ga Thanh Hóa mà thím Nhẫn kể chiều qua bỗng dội về trong tâm trí cụ, lạnh ngắt như tảng băng. Nhưng thấy vẻ sợ sệt, bơ phờ của con, cụ chỉ biết nuốt tiếng thở dài vào lồng ngực. Lúc này dồn ép nó chỉ tổ làm nó hoảng loạn thêm.
Cụ Sơn thong thả trở lại chiếc chõng tre kê sát mép thềm gạch chái bếp. Cụ quẹt que diêm, thắp ngọn đèn dầu hột vịt rồi vặn bấc thật nhỏ, chỉ để lại một đốm sáng vàng le lói đủ soi tỏ khoảng thềm nhỏ hẹp. Cụ đưa tay nhấc chiếc giỏ nan gia bảo đặt trên chõng xuống đùi. Chiếc giỏ nan tre ngà được cụ trau chuốt suốt mấy tháng trời, vừa hoàn thành bộ khung vào chiều hôm qua, chỉ còn đợi lận nốt vành nan then chốt quanh miệng cạp. Đây là tác phẩm kết tinh từ bí thuật “mười mối nan cài nan néo” mà tổ tiên dòng họ Cầm truyền lại: mười dải nan cật tre bánh tẻ dẻo quánh đan chéo góc cài lồng vào nhau, tạo thành một hệ mắt xích tự ghì vô cùng tinh xảo.
Đôi bàn tay gân guốc của cụ Sơn lại thoăn thoắt đưa cọng nan cật nứa lướt qua miệng giỏ. Dù ngón tay cái quấn vải xô còn nhức nhối, từng cử động của cụ vẫn nhịp nhàng, khéo léo đến kỳ lạ. Cụ vừa ghì chặt mối néo cuối cùng vừa cất giọng thong thả, đôn hậu: — Thằng Hải, mày lại đây thầy bảo.
Hải lấm lét bước lại gần, ngồi thụp xuống bậc cửa đất dưới chân cụ. Cụ Sơn khẽ miết nhẹ lên vành giỏ nan nhẵn bóng, ánh mắt trầm tĩnh nhìn con: — Mày nhìn mười mối nan này xem. Nan tre bánh tẻ, chẻ mỏng thì mềm, uốn cong vòng cung không gãy. Nhưng nếu đứng trơ trọi một mình, cọng nan mảnh dẻ ấy chỉ cần một cơn gió mạnh là đứt đôi. Bí quyết của mười mối nan néo không phải ở chỗ nan cứng hay dày, mà là ở chỗ chúng biết nương tựa, cài lồng chặt chẽ vào nhau. Lực kéo càng mạnh thì các mối cài lại càng ghì chặt lấy nhau mà chịu lực.
Cụ dừng tay, đưa mắt nhìn sâu vào gương mặt đang tái mét của con út, giọng chùng xuống tha thiết: — Người đời sống ở đời cũng như cọng nan kia thôi con ạ. Cậy cứng thì chóng gãy, ham giàu xốc nổi mà đi tắt đón đầu thì dễ sa chân lỡ bước. Thầy một đời chuốt nan lận cót, nhà mình tuy nghèo, bữa cơm độn củ sắn củ khoai nhưng giữ được nếp nhà trong sạch, nề nếp gia phong không hoen ố. Lạt mềm mới buộc chặt được bó mạ, chớ vì mấy đồng bạc trôi nổi ngoài chợ trời mà làm đứt gãy cái gốc rễ tổ tiên để lại, nghe chưa con?

Bình luận chương 0
Đăng nhập để tham gia bình luận.
Đang tải bình luận…