Nét Chữ Khởi Cư Soi Rõ Án Cung Đình
Chương 10: Nguồn Cội Tùng Yên
Sau canh tư dồn dập tao loạn với biểu đàn hạch của Bộ lại, tiếng mõ canh năm từ phía vọng lâu dội lại cũng là lúc ngoài hành lang vang lên tiếng giày da nện trên nền đá cùng tiếng giáp trụ va chạm lách cách. Toán cấm quân canh giữ gian phòng chái đông bắt đầu giao phiên trước khi rạng đông ló dạng.
Bên ngoài khe liếp, tiếng tên lính gác cũ khàn đặc vọng vào:
“Coi chừng gian phòng cho cẩn mật, Vệ Thượng thư đã đích thân căn dặn không được để sơ suất.”
Tên lính mới đón lấy đầu giáo, đáp bằng giọng uể oải trong sương lạnh:
“Huynh đài cứ việc đi nghỉ. Cửa nẹp then sắt khóa ngoài, một nữ quan trói gà không chặt thì làm nên trò trống gì.”
Tiếng bước chân xa dần. Thời cơ chỉ vỏn vẹn trong nửa khắc ngắn ngủi khi lính cũ rời vị trí và toán lính mới chưa kịp định thần vào chốt.
Uyển Nghi không chậm trễ. Nàng quỳ xuống nền đất giá rét, rút chiếc trâm bạc hình bút lông trên búi tóc. Mũi trâm bạc cứng cáp khéo léo luồn vào khe hở giữa hai phiến gạch xám nơi chân chõng tre. Nàng vận lực cổ tay, bẩy dứt khoát. Phiến gạch lát lay động rồi bật lên, để lộ khoảng ngầm tối tăm thông tới nền móng gian tàng thư.
Xoay nhẹ chuôi trâm, chiếc chìa khóa bạc nhỏ rơi gọn vào lòng bàn tay. Vươn tay xuống ngách hầm quen thuộc, nàng mở chiếc rương gỗ bách, lấy ra bức di cảo của thân phụ Hoàng Đạo Bình viết từ năm Thiên Hy thứ tám, đoạn đậy nắp rương và kéo phiến gạch che kín miệng hầm.
Căn phòng chái đông lại chìm trong vẻ tịch mịch hoang lạnh.
Trên chiếc bàn con bằng gỗ tạp, đĩa gốm đựng hạt dầu lạc leo lét tỏa ra làn khói ngai ngái. Uyển Nghi dùng que đóm khêu bấc đèn cho ánh lửa nhích lên một chút, vừa đủ rọi sáng từng thớ giấy ố vàng.
Bức di cảo của cố Thái sử lệnh Hoàng Đạo Bình nằm trọn dưới mắt nàng. Mười năm dãi dầu sương gió, nét chữ của cha vẫn thanh thoát, đĩnh đạc như cốt cách bậc tùng bách. Đốt ngón trỏ tay phải của Uyển Nghi khẽ miết lên vệt mực mang sắc đen ngả xám.
Nàng không vội nhìn câu chữ, mà đưa mép giấy lên gần sống mũi, chầm chậm khép hờ mi mắt để khứu giác làm công việc quen thuộc của người chép sử.
Mùi hăng nồng phả vào cánh mũi nàng. Đó không phải hương thanh khiết của mực ngự chế nấu từ bồ hóng tùng yên ngàn năm hòa cùng nhựa hổ phách. Nét mực trên di cảo này vương vị chua của giấm thanh, vị chát của phèn đen, và mùi nhựa thông non hăng nồng trộn lẫn hương bồ đề sực nức.
Đầu ngón tay Uyển Nghi lướt nhẹ trên mặt giấy. Dưới xúc giác tinh tường được tôi luyện qua mười năm giám định văn thư, mặt mực không hề chìm sâu vào thớ dướng như mực ngự chế chính thống, mà tạo thành một gờ nổi ráp nhẹ dưới da thịt. Lớp mực ấy giòn khô, hơi cộm lên và có dấu hiệu bong vảy li ti nơi các nét sổ đậm.
Từng đặc tính ấy đánh thức ký ức chuẩn xác của nàng. Bản ngự ký ngày mười bảy tháng Tám ngụy tạo mà nàng đã giám định trước đó cũng mang sắc đen ánh tía chưa ngả nâu, gờ mực cộm vảy bồ đề và mùi nhựa thông non nồng gắt hãm bằng giấm thanh.
Hai mẫu mực được viết cách nhau tròn mười năm, nhưng cùng chung một công thức pha chế quái dị.
Uyển Nghi mở to mắt, ánh nhìn sắc lạnh khóa chặt vào vệt chữ của cha:
“Thì ra là ngươi...”
Tại triều đình Đại Lạc, Khởi Cư Viện chỉ sử dụng mực ngự chế do Nội Công tác cục tiến triều. Loại mực ấy dùng bồ hóng thông già nơi núi cao ngàn thước, trải qua chín lần gạn lọc, hòa cùng nhựa hổ phách quý hiếm tạo nên chất mực đen nhánh như huyền thạch, ngàn năm không phai sắc, trăm năm không đổi mùi.

Bình luận chương 0
Đăng nhập để tham gia bình luận.
Đang tải bình luận…