Ngọn Đèn Biển Tìm Lại Bến Xưa
Chương 7: Đôi Thùng Nước Ngọt
Nét mực tím lắng dần trên trang giấy Bãi Bằng, ngấm sâu vào từng thớ xơ thô ráp. Bằng cúi đầu nhìn dòng chữ vụng về của chính mình, lồng ngực phập phồng sau cơn nghẹn thắt. Anh khẽ khàng thổi tắt ngọn đèn hoa kỳ, gấp cuốn sổ bìa xanh lại rồi cẩn thận lồng vào túi ni-lông, đặt ngay ngắn vào đáy chiếc ba lô bạt bạc màu bên cạnh chiếc kẹp tóc đồi mồi sứt góc. Đêm rằm tháng sáu dần tàn trong tiếng còi tàu hàng trầm đục vọng lại từ luồng lạch ngoài khơi xa.
Ngay sáng hôm sau, Bằng dứt khoát tìm gặp ban quản trị khu tập thể Ty Hàng hải để làm thủ tục bàn giao, trả lại chiếc chìa khóa căn buồng số 12. Bỏ ngoài tai những ánh mắt tò mò và những lời xì xào to nhỏ của đám đồng nghiệp cũ, anh chỉ lẳng lặng gật đầu chào rồi quẩy chiếc ba lô duy nhất rời đi. Bằng không tìm một nơi ở đàng hoàng trong phố chợ. Anh lần xuống tận rìa bến cá Đồ Sơn, hỏi thuê lại căn chòi tạm dựng bằng gỗ tạp và lợp mái lá cọ của một hộ dân chài đã chuyển nghề lên thị xã. Căn chòi xiêu vẹo nằm sát mép nước, ngày đêm hứng trọn mùi bùn triều nồng nặc và hơi dầu luyn máy nổ bốc lên từ các mạn thuyền, nhưng từ đây nhìn ra bến tàu tiếp tế đi Hòn Dáu chỉ mất vài bước chân. Quan trọng hơn cả, chỉ cần rảo bước ngược con dốc đá chừng nửa cây số là anh đã có thể lên tới xóm Bến.
Căn chòi gió lùa tứ phía, trống trải chẳng khác nào buồng trực ngoài hải đăng, nhưng Bằng chỉ cần một chỗ ngả lưng sau những chuyến gác đèn, để sớm tối có thể lặng lẽ qua xóm Bến đỡ đần mẹ con Mai. Kê lại manh chiếu cói rách lên chiếc chõng tre ọp ẹp, lòng anh nhen lên một nỗi sốt ruột không nguôi. Anh muốn bắt đầu bù đắp cho mẹ con cô ngay lập tức, bằng chính đôi bàn tay này chứ không phải bằng những đồng tiền lương gửi gắm khô khan.
Bốn giờ sáng hôm sau, khi thị xã còn chìm sâu trong giấc ngủ và màn sương biển mịt mùng phủ trắng những rặng phi lao, Bằng đã trở dậy. Hơi lạnh ngấm qua lần áo cộc tay sờn vai khiến da thịt anh săn lại. Ở vùng bán đảo Đồ Sơn này, nước ngọt quý như tạ thóc. Mùa hạ nắng cháy, dân xóm Bến quanh năm phải chắt chiu từng gáo nước mưa, nếu trời không mưa thì phải chong đèn thức giấc từ nửa đêm ra bể công cộng dưới chân dốc chợ chực chờ mới múc được vài gàu nước ngọt pha chút phèn chua. Bằng lấy đôi thùng tôn cũ mượn được dưới bến cá cùng chiếc đòn gánh bằng tre đực đã lên nước bóng loáng, bước nhanh về phía bể nước rêu phong.
Tiếng gàu tôn va vào thành vách xi măng kêu lanh canh khô khốc giữa khoảng không tịch mịch. Khi đôi thùng đã sánh đầy thứ nước trong vắt mát lạnh, Bằng ghé vai đón lấy chiếc đòn gánh tre. Đôi thùng nặng trĩu vít cong thanh tre đặc giáp hạt, đè miết lên vết chai sần trên bả vai áo lăng đã bạc phếch. Anh hít một hơi dài căng tràn lồng ngực, bước những bước dài, vững chãi leo ngược con dốc đá lát gập ghềnh. Mười năm gác đèn, đôi chân anh quen leo hàng trăm bậc thang xoắn ốc bằng sắt của tháp hải đăng giữa đêm giông bão, nhưng chưa từng có bước đi nào khiến tim anh thắt lại như lúc này. Đôi thùng nước đung đưa theo từng nhịp thở, tiếng kĩu kịt của đòn gánh như dội vào tâm can anh lời trách móc của bà Tư Lành về những năm tháng Mai phải một thân một mình gồng gánh nuôi con. Giọt mồ hôi mặn chát lăn dài qua khóe mắt, nhỏ xuống mặt đá xám. Bằng cắn chặt môi, hai bàn tay thô ráp ghì chặt lấy dây quang dầu, dồn hết sức vào đôi chân trần mà bước tới.
Dưới chân dốc xóm Bến, căn nhà cấp bốn lợp tấm fibro xi măng cũ kỹ của tiệm may Tuyết Mai vẫn im lìm sau hàng rào dâm bụt đẫm sương. Bằng rón rén bước qua khoảng sân đất nện nhỏ hẹp, bàn chân đặt khẽ khàng không phát ra một tiếng động nào. Chiếc chum sành da lươn đặt nép bên góc tường vôi loang lổ đã cạn trơ đáy, bên trong chỉ còn dính một lớp cặn phèn khô khốc.
Bằng hạ đòn gánh, hai tay ghì chặt quai thùng, nghiêng nhẹ miệng tôn rót nước vào lòng chum. Dòng nước ngọt ngào tuôn xối xả, tiếng nước ùng ục vang lên trong lòng gốm nung nghe êm ả như một tiếng thở dài giải tỏa. Sợ làm kinh động mẹ con Mai bên trong liếp cửa, anh cẩn thận ngắt một phiến lá chuối khô lót dưới đáy dòng chảy để hãm bớt tiếng va đập.
Hết chuyến thứ nhất, Bằng lại lầm lũi quẩy gánh quay trở lại bể nước. Phải mất ba chuyến đi về đẫm mồ hôi giữa màn sương sớm, chiếc chum sành mới đầy ắp đến tận miệng, mặt nước phẳng lặng như gương soi bóng rặng mây hồng đang hé rạng nơi chân trời vịnh biển.
Đặt đôi thùng tôn xuống góc sân, Bằng quệt vội vệt mồ hôi túa ra trên trán. Ánh mắt anh chạm vào góc chái hiên tiệm may. Nơi đó ngổn ngang một đống củi phi lao khô khốc, những khúc gỗ gồ ghề vặn xoắn bám đầy cát biển chưa được chẻ nhỏ, nằm lăn lóc bên mép đất ẩm ướt. Nhìn đầu ngọn củi còn vương những vết bẻ dập nát do dùng chân đạp hay ghè đá, ngực Bằng nhói buốt. Mai vốn mảnh mai, đôi bàn tay thon gầy chỉ quen cầm kéo và se sợi chỉ may, làm sao kham nổi việc bửa những khúc củi cứng như đá này?
Không chần chừ, Bằng tiến lại góc chái hiên. Chiếc rìu sắt cán ngắn han gỉ cắm hờ bên khúc gỗ mục được anh rút nhẹ ra. Bằng cúi người, nhặt từng khúc phi lao đặt lên đôn gỗ. Vận sức vóc vạm vỡ của người đàn ông miền biển quen quăng lưới kéo neo, anh giơ cao lưỡi rìu chém xuống dứt khoát.

Bình luận chương 0
Đăng nhập để tham gia bình luận.
Đang tải bình luận…