Người Gác Hải Đăng Cuối Cùng

Chương 3: Hải đồ vẽ tay

Ngón tay Thảo miết chậm rãi qua lề dưới bức ảnh, nơi dòng mực tím của hai mươi năm trước đã ngả sang sắc bầm tím thẫm như vết máu đọng dưới da thịt.

“Nợ Khiêm một mạng. Đèn tắt, hồn rạn, người tan.”

Căn phòng tầng bốn của tháp đèn chìm trong một thứ tĩnh lặng rợn ngợp, chỉ còn tiếng bấc đèn bão cháy tí tách nghe như tiếng kim đồng hồ điểm từng nhịp khô khốc. Gió ngoài khơi đập vào vách đá hoa cương dày cả mét, tạo thành những luồng xung lực trầm đục dội thẳng vào lồng ngực Thảo. Cô khẽ gập ngón tay, cảm nhận góc cạnh lạnh ngắt của bức ảnh ố vàng và chiếc la bàn trong túi áo ngực đang ghì chặt vào xương sườn mình.

Hai mươi năm. Hai mươi năm ròng rã mẹ con cô sống trong sự mỏi mòn của những bản kết luận điều tra hành chính: Tàu vận tải Thuận Phong 04 mất tích trong bão, toàn bộ thuyền viên mất tích, không tìm thấy thi thể. Nhưng người đàn ông trong tấm ảnh này — người đồng đội có đôi mắt rụt rè tựa vai cha cô trên boong tàu năm ấy — vẫn sống. Lão sống lầm lũi trên mỏm đá trơ trọi này suốt hai thập kỷ, tự giam mình trong ngọn tháp để gặm nhấm nỗi đọa đày của một kẻ sống sót.

Thảo hít một hơi dài, mùi ẩm mốc của giấy cũ và mùi tanh nồng của muối biển xộc thẳng vào cuống họng. Bản năng và kỷ luật của một kỹ sư không cho phép cô gục ngã trong những cơn bàng hoàng vô định. Bằng đôi tay còn vương chút run rẩy, cô cẩn thận đặt bức ảnh xuống góc bàn gỗ lim, lật giở từng trang của cuốn sổ nhật ký bọc vải dầu.

Những dòng ghi chép của Tư Ngạn không hề là những lời mê sảng của một kẻ loạn trí. Chúng dày đặc những con số, góc phương vị và thông số kỹ thuật chuẩn xác đến mức kinh ngạc. Từng góc quét, từng độ mở của màn chắn quang học, từng tỉ lệ pha chế dầu hỏa với cồn biến tính đều được ghi chép tỉ mẩn theo chu kỳ từng tháng, chuẩn xác đến từng độ phút của la bàn hàng hải.

Thảo cầm ngọn đèn bão, bước nhanh sang mảng tường đối diện góc bàn làm việc.

Ghim chặt trên phiến đá granite xám xịt là một tấm hải đồ vẽ tay khổ lớn, viền mép bọc băng keo vải đã ố vàng, loang lổ những vệt nấm mốc hoa cau. Tấm bản đồ không vẽ theo quy chuẩn hải đồ thủy đạc hiện đại của Cục Hàng hải, mà được phác bằng mực tàu pha mật mía trên nền giấy xi măng dày dặn. Từng đường đồng mức độ sâu quanh đảo Hòn Gạc hiện lên sắc nét, chằng chịt những ký hiệu chữ thập đỏ và các vệt mực gạch chéo biểu thị những dải đá san hô ngầm hiểm trở.

Ánh mắt Thảo dừng lại ở một rẻ quạt khổng lồ được kẻ bằng bút chì đỏ, xuất phát từ tâm tháp đèn Hòn Gạc và quét chếch về hướng 45 độ Đông Bắc — thẳng tắp ra rạn Quỷ Môn.

Cô mở tập hồ sơ kỹ thuật mang theo từ đất liền, đối chiếu từng góc quét quang học mà Tư Ngạn ghi lại trong đêm ba mươi âm lịch suốt hai mươi năm qua: Độ cao buồng đèn: 35 mét so với mực nước biển trung bình. Tiêu cự thấu kính Fresnel: 920 milimét. Tốc độ quay: 1 vòng mỗi 12 giây, ghìm chốt hãm tại góc 45 độ trong đúng 3 giây. Nhiên liệu đốt: Dầu hỏa tinh lọc pha 15% cồn biến tính nguyên chất.

Đầu óc Thảo xoay chuyển nhanh như các bánh răng cơ khí. Cô là dân chuyên ngành máy móc và thiết bị quang học hàng hải, từng bảo vệ xuất sắc đồ án tốt nghiệp về hiện tượng vi khúc xạ ánh sáng trên mặt biển nhiệt đới. Bức màn ma mị bao phủ lấy ngọn tháp suốt bao năm bỗng chốc được bóc trần từng lớp dưới ánh sáng rực rỡ của các quy luật vật lý.

Rạn Quỷ Môn là một vùng trũng hải lưu đặc thù, nơi gặp nhau giữa dòng hải lưu lạnh từ phía bắc đổ xuống và dòng nước ấm ven bờ vịnh Dung Quất trôi ngược ra. Vào những đêm trăng non cuối thu, khi áp thấp nhiệt đới hình thành ngoài biển Đông, một tầng nghịch nhiệt cực mạnh sẽ xuất hiện ngay sát mặt biển: lớp không khí ẩm lạnh sát mặt nước bị kẹp chặt dưới một tầng khí nóng khô bên trên.

Dầu hỏa pha cồn của lão Tư khi cháy sẽ tạo ra ngọn lửa vàng có nhiệt độ cao hơn bình thường, phát ra quang phổ bước sóng dài có khả năng xuyên thấu sương muối cực tốt. Khi cụm thấu kính Fresnel khổng lồ xoay đến góc 45 độ và bị cưỡng bức ghìm lại bằng chốt hãm thủ công, chùm tia sáng hội tụ cực mạnh quét sượt qua mép rạn Quỷ Môn. Vào thời điểm triều kiệt kiệt cùng của đêm ba mươi, phần sống tàu và những thanh xương sắt hoen rỉ của xác tàu Thuận Phong 04 sẽ nhô lên khỏi ngọn sóng ngầm. Khi chùm sáng hội tụ rọi trúng vào phần khung xác nhô lên ấy, các tia phản xạ đi qua các tầng nghịch nhiệt dày đặc hơi muối bị bẻ cong liên tục, phóng đại kích thước rồi chiếu ngược lên màn sương mù mịt ngoài khơi xa.

Đó chính là hiện tượng ảo ảnh Fata Morgana biển đảo!

Một ảo ảnh quang học phức hợp, phóng đại và tái tạo hình ảnh của một xác tàu chìm dưới đáy biển lên tầng không khí lơ lửng, tạo cảm giác như một con tàu ma nguyên vẹn đang lướt đi trên đầu ngọn sóng mà không để lại vết rẽ nước.

Lão Tư Ngạn không hề thắp đèn cho người sống. Lão dùng chính ngọn hải đăng của nhà nước, dùng toàn bộ kỹ thuật tinh vi của bộ thấu kính thời Pháp để dựng nên một bức màn hoài niệm khổng lồ, trò chuyện với linh hồn của con tàu chìm hai mươi năm trước.

“Tại sao lại là đêm ba mươi?” Thảo lẩm bẩm, ngón tay run rẩy gõ nhẹ lên góc hải đồ. “Bởi vì đêm ba mươi không có ánh trăng làm nhiễu loạn quang phổ... và đêm ba mươi năm ấy, tàu Thuận Phong 04 đã chìm.”

Một tiếng nổ máy trầm đục, rời rạc bất ngờ vang lên từ ngoài vụng biển.

Phành... phành... phạch!

Tiếng máy nổ đuôi tôm cũ kỹ, thô bạo xé toạc màn mưa gió đang rít gào quanh tháp đèn.

Thảo giật mình, quay phắt ra phía cửa sổ hướng về vũng biển phía nam. Giữa những đợt sóng bạc đầu đang chồm lên như những bờ tường bọt nước trắng xóa, một chiếc thuyền gỗ nan gắn máy đuôi tôm đang dập dềnh như chiếc lá khô, chật vật lách qua khe đá dẫn vào âu thuyền tự nhiên của Hòn Gạc.

Chú Sáu Rạn!

Thảo vơ vội chiếc áo mưa dã chiến, kẹp chặt cuốn sổ và chiếc đèn bão vào nách rồi lao xuống cầu thang xoắn ốc. Một trăm hai mươi bậc gang rung lên bần bật dưới từng bước chân gấp gáp của cô. Tiếng gió bão lùa qua các lỗ châu mai tạo thành những âm thanh gầm rú như tiếng kèn đồng bi ai của biển cả. Mỗi bậc thang sắt rỉ sét đều run rẩy theo từng nhịp sóng vỗ ầm ầm vào chân bệ đá.

Khi Thảo đẩy được cánh cửa sắt nặng trịch ở chân tháp ra ngoài, gió muối quất rát bỏng vào mặt cô. Thềm đá hoa cương trơn trượt như bôi mỡ. Phía dưới bờ vụng, chiếc thuyền gỗ của chú Sáu đang bị những con sóng cao hơn hai mét nhồi lên dập xuống, đập mạng sườn ken két vào gờ đá lởm chởm.

“Con nhỏ kia! Đứng yên đó, đừng có nhào xuống rớt bể gáo nghen con!”

Tiếng chú Sáu Rạn gầm lên qua bão gió, khàn đặc và ồm ồm. Chú mặc bộ áo tơi lá cồng kềnh, hàm râu kẽm ướt đẫm bọt sóng, hai tay ghì chặt cần lái máy nổ, dùng hết sức bình sinh gí mũi thuyền vào một khe đá có bọc lốp xe cũ.

Thảo không nghe, cô khom người, bám chặt vào sợi xích sắt neo đường công vụ, trượt dần xuống mép sóng. Gió tạt nước biển vào khóe mắt xót buốt, nhưng đôi chân cô vẫn bám chặt từng khe nứt trên thềm đá. “Chú Sáu! Sao chú quay lại? Đài báo bão cấp mười rồi, chú điên rồi sao chú Sáu!”

“Điên cái đầu mi!” Chú Sáu quăng một sợi dây thừng to bằng cổ tay lên bờ đá, hét lớn: “Tròng vô cái cọc bích đằng kia mau! Nhanh cái tay, sóng nó bẻ lái chừ!”

Thảo lao tới, đón lấy đầu dây thừng ướt sũng, vòng ba vòng qua chiếc cọc sắt cắm sâu vào vỉa đá granite rồi gài nút khóa chéo. Chiếc thuyền tạm thời được ghìm lại, nhưng đuôi thuyền vẫn văng qua văng lại dữ dội theo từng con triều rút.

Chú Sáu lồm cồm bò lên mũi thuyền, vác theo một can nhựa màu xanh loại ba mươi lít và một bao tải dứa buộc chặt miệng. Chú canh con sóng vừa đội thuyền lên cao thì phóng người nhảy phốc lên thềm đá, suýt ngã sấp mặt nếu Thảo không kịp đưa cả hai tay ra đỡ lấy bờ vai lực lưỡng của chú.

Can dầu rơi xuống đá kêu bịch một tiếng nặng trịch. Mùi dầu hỏa tinh lọc nguyên chất nồng nặc bốc lên, át cả vị tanh nồng của rong rêu rạn đá.

“Dầu hỏa... với bao gạo sấy,” chú Sáu thở hổn hển, quẹt ngang dòng nước mặn đang chảy ròng ròng trên mặt, hàm răng ám khói thuốc lào lập cập va vào nhau vì lạnh. “Lão Tư... lão dặn tui từ tuần trước, sống chết chi trước ngày ba mươi cũng phải chở mẻ dầu ni ra cho lão. Tui ngó chừng trời sụp sớm quá, sợ lão chết đói chết khát ngoài ni...” Chú Sáu dáo dác nhìn quanh quất, giọng chùng xuống: “Ủa, mà lão Tư mô rồi? Răng có mình mi ướt như chuột lột ở đây?”

Thảo đứng chắn trước luồng gió, nhìn xoáy vào đôi mắt vằn đỏ vì thiếu ngủ và nước mặn của người ngư dân già.

“Lão trốn rồi,” Thảo nói, giọng cô lạnh tanh nhưng đanh lại trong tiếng gió rít. “Lão đang trốn ở mấy hốc đá dưới rạn kia kìa. Chú Sáu, chú biết hết mọi chuyện đúng không? Chú biết chiếc can dầu này dùng để làm gì. Và chú biết... tàu Thuận Phong 04.”

Khuôn mặt sạm đen vì nắng gió của chú Sáu Rạn bỗng chốc cứng đờ. Đôi con ngươi đảo liên tục, né tránh ánh nhìn sắc như dao cạo của cô kỹ sư trẻ. Chú lùi lại nửa bước, bàn tay thô ráp vô thức nắm chặt lấy quai can dầu.

“Mi... mi nói cái giống chi rứa? Tàu bè chi ở đây...”

“Cha cháu là Nguyễn Văn Khiêm!” Thảo hét lên, âm thanh xé toạc màn mưa phùn mịt mùng. Cô rút chiếc la bàn bằng đồng thau từ trong ngực áo ra, giơ thẳng trước mặt chú Sáu. “Thuyền trưởng Khiêm! Đây là la bàn của ông ấy! Chú nhìn đi! Ông Tư Ngạn là thủy thủ phó trên con tàu đó! Hai mươi năm trước, đêm ba mươi tháng bảy năm 1978, chuyện gì đã xảy ra ngoài rạn Quỷ Môn?”

Chú Sáu nhìn chòng chọc vào chiếc la bàn hàng hải cũ kỹ, nơi mặt kính đã rạn và kim chỉ hướng đang run rẩy chỉ về hướng đông bắc. Đôi vai vạm vỡ của người đàn ông miền biển bỗng chùng xuống, như thể một tảng đá ngàn cân vừa đè sập lên tấm lưng áo tơi tả tơi của chú. Chú ngồi thụp xuống mép đá, bất chấp sóng biển thỉnh thoảng lại chồm lên phủ ướt nửa thân dưới.

“Trời đất quỷ thần ơi...” Tiếng than của chú Sáu nghẹn lại giữa cuống họng, vỡ vụn ra theo từng tiếng nấc. “Mi là... con gái thằng Khiêm thiệt hả mi? Con Thảo... con nhỏ bảy tuổi hồi đó hay ngồi trên cầu cảng Sa Huỳnh đợi ba về đó hả?”

Đăng nhập để thả tim Đăng nhập để tương tác

Ủng hộ tác giả Hát Long
Mỗi lời động viên là động lực để tác giả tiếp tục sáng tác.

Hát Long

Tác giả của câu chuyện này · Hãy cùng ủng hộ những chương tiếp theo.

Đăng nhập để theo dõi

Bình luận chương 0

Đăng nhập để tham gia bình luận.

Đang tải bình luận…