Người Gác Hải Đăng Cuối Cùng

Chương 4: Tiếng chuông dưới hầm máy

Âm thanh keng... keng... keng... dội lên từ lòng đất không mang vẻ trong trẻo của tiếng chuông nhà thờ, mà trầm đục, khô khốc và giục giã như một hồi báo tử. Đó là tiếng búa đồng của bộ ngắt cơ học liên tục đập vào vành chuông cảnh báo sự cố khẩn cấp. Khi quả tạ ngàn cân đứt cáp và lao thẳng xuống đáy giếng kỹ thuật, sức căng giữ cho hệ thống bánh răng ăn khớp lập tức biến mất. Trục truyền động chính bị văng khỏi ngàm hãm, khiến cụm thấu kính Fresnel nặng gần ba tấn trên đỉnh tháp khựng lại đột ngột.

Trái tim của ngọn hải đăng tám mươi sáu năm tuổi đã ngừng đập giữa lúc tâm bão biển Đông quét qua rạn Quỷ Môn.

Thảo đứng tựa lưng vào cánh cửa sắt dày khộp vừa chốt chặt, lồng ngực phập phồng sau chặng đường khuân vác can dầu vượt qua thềm đá ngập sóng. Tiếng gió rít bên ngoài lọt qua các khe thông gió hẹp, hú lên từng hồi thê thiết tựa tiếng còi tàu vỡ trận. Tòa tháp đá granite cao ba mươi lăm mét rung bần bật dưới áp lực ngàn cân của luồng xoáy cấp mười hai. Vữa vôi trên vòm trần bong ra từng mảng, rơi lộp bộp xuống mặt sàn lát đá phiến xanh.

“Ngừng xoay rồi...” Thảo thì thầm, bàn tay siết chặt quai chiếc túi đồ nghề cơ khí đeo bên hông.

Là một kỹ sư máy hàng hải, cô hiểu rõ sự tê liệt này đồng nghĩa với điều gì. Một thấu kính Fresnel đốt bằng bấc dầu đa tầng nếu bị đứng yên một chỗ, luồng nhiệt khổng lồ từ ngọn lửa sẽ nung nóng cục bộ một vùng lăng kính thủy tinh. Chỉ cần mười lăm phút không có luồng quay tản nhiệt, chênh lệch nhiệt độ cực hạn giữa bên trong buồng đèn và gió bão buốt giá bên ngoài sẽ làm vỡ vụn các phiến lăng kính hội tụ tinh xảo thời Pháp thuộc. Đèn sẽ nổ, dầu sẽ tràn, và ngọn hải đăng Hòn Gạc sẽ biến thành một bó đuốc mù lòa trước khi bị bão dập tắt vĩnh viễn.

Phải xuống hầm máy. Ngay lập tức.

Thảo vặn chốt chiếc đèn pin công nghiệp gắn trên mũ bảo hộ, ánh sáng vàng sắc lạnh quét qua khoảng không gian mịt mù bụi vôi của sảnh tầng trệt. Cạnh giếng kỹ thuật rỗng tuềnh toàng – nơi sợi cáp tạ vừa đứt lìa để lại một vệt khói ma sát khét lẹt mùi kim loại cháy – là một cửa nẹp sắt tròn dẫn thẳng xuống lòng móng đá. Cửa hầm chỉ rộng vừa một thân người chui lọt, bậc thang gang đúc cắm thẳng đứng vào vách đá ngầm đen ngòm, ướt nhầy nhụa rong rêu và rỉ sét.

Gió lùa từ đáy hầm thốc ngược lên, sặc sụa uế khí của nước biển đọng lâu ngày, hòa lẫn mùi hăng nồng của dầu mazut cặn và than đá từ đầu thế kỷ. Tiếng chuông báo động ở bên dưới vẫn dộng từng nhịp chói tai vào màng nhĩ: Keng! Keng! Keng!

Thảo ngậm chặt chiếc đèn pin cầm tay sơ cua vào miệng, hai tay bám chặt vào từng thanh giằng sắt buốt lạnh như băng, bắt đầu tụt xuống bóng tối.

Mỗi bậc thang trơn trượt đều là một thử thách thót tim. Lớp mỡ bò bảo dưỡng lâu năm kết hợp với hơi muối biển bám dày trên bề mặt gang khiến đôi găng tay bạt của cô trượt đi liên tục. Dưới chân Thảo, sâu chừng bảy mét dưới mực nước biển, nước triều ngầm đã bắt đầu tràn qua các mạch nứt của móng đá granite. Từng đợt sóng dồn ngoài vụng dội vào hang ngầm phát ra những tiếng ù ù nặng nề như tiếng sấm nén dưới đáy vực.

Bàn chân Thảo chạm vào lớp nước lạnh ngắt dâng cao tới mắt cá. Cô rút đèn pin rọi một vòng quanh căn hầm máy hình vòm cuốn.

Nơi đây từng là kho chứa nhiên liệu và trạm máy phát phụ trợ từ thời thuộc địa, tường đá xây dày hơn hai mét để chống chọi pháo kích. Giữa hầm, khối tạ gang hình trụ dài hai mét đã rơi cắm phập xuống hố cát giảm chấn, làm gãy nát toàn bộ giàn giáo gỗ thông mục nát xung quanh. Sợi cáp thép to bằng cổ tay bị tước ra thành từng chùm dây kim loại lởm chởm như một bó gai nhọn, quấn chặt lấy trục tời chính.

Chiếc búa đồng của bộ ngắt cơ học đang liên hồi va đập vào mép một chiếc chuông đúc nổi hình mỏ neo. Nhưng điều khiến đồng tử Thảo co thắt lại không phải là đống kim loại đổ nát.

Ở góc khuất ẩm thấp nhất của căn hầm, sau bức tường đá rỉ nước ròng ròng, một vệt ánh sáng leo lét của ngọn đèn bão dầu hỏa đang chập chờn run rẩy.

Trên nền đá xâm xấp nước biển lấp loáng váng dầu, một bóng người gầy guộc đang nằm co quắp.

“Ông Tư!”

Thảo thốt lên, giọng cô vỡ tan giữa tiếng chuông rền rĩ. Cô bất chấp nước bẩn ngập đến bắp chân, lao vội về phía góc hầm.

Tư Ngạn nằm nghiêng trên một tấm ván gỗ ướt sũng. Lão không trôi dạt ra biển, cũng không nhảy xuống rạn Quỷ Môn tự vẫn như lời phỏng đoán kinh hoàng của chú Sáu Rạn. Lão đang ở đây, ngay dưới móng sâu của ngọn tháp mà lão đã gắn bó suốt ba mươi năm cuộc đời.

Nhưng người thợ gác đèn già trông chẳng khác nào một cành đước khô mục vừa bị bão bẻ gãy. Thân hình lão co giật từng chập dữ dội trong cơn sốt rét rừng tái phát; hàm răng va vào nhau lập cập phát ra những tiếng lục cục khô khốc. Bộ quần áo kaki màu cỏ úa ướt sũng dính chặt vào lồng ngực gầy giơ xương sườn. Môi lão thâm sì, tái ngắt, rỉ ra những giọt bọt mép mặn chát.

Và đôi bàn tay lão... Thảo rùng mình khi ánh đèn pin chiếu rọi xuống.

Hai bàn tay khẳng khiu, đầy đồi mồi của ông lão đang rướm máu đỏ thẫm. Da thịt ở lòng bàn tay và các ngón tay bị xé toạc, lộ cả gân trắng và màng mỡ, nhưng những ngón tay gãy gập ấy vẫn ghì chặt lấy một khối kim loại nặng trịch áp vào ngực. Đó là một bánh răng truyền động dự phòng bằng đồng thau nguyên khối, đường kính gần bốn mươi phân, với các bước răng hình nón được bọc kỹ trong nhiều lớp giẻ tẩm mỡ bò.

Lão đã chui xuống đây giữa lúc bão đổ bộ, dùng chính đôi bàn tay trần cạy mở hòm sắt rỉ sét để tìm bánh răng thay thế khi linh cảm thấy hệ thống truyền động sắp đứt gãy.

“Ông Tư! Tỉnh lại đi! Ông Tư!”

Thảo quỳ sụp xuống làn nước lạnh, đỡ lấy bờ vai trơ xương của ông lão. Hơi thở của Tư Ngạn phả ra nóng rực, mùi dầu hỏa và mùi đờm tanh nồng bốc lên đặc quánh. Cô thọc tay vào túi áo gió, rút chiếc cờ lê đa năng gõ mạnh vào thanh ngắt của quả lắc chuông, bẻ cong lẫy gạt để dập tắt chuỗi âm thanh báo động đinh tai nhức óc. Căn hầm đột ngột chìm vào một thứ im lặng ngột ngạt, chỉ còn tiếng gió rít gầm gừ qua vách đá và tiếng thở dốc đứt quãng của người gác đèn.

Thảo nhanh chóng cởi chiếc áo khoác phao khô ráo bên ngoài của mình, bọc kín lấy tấm thân đang run rẩy của ông Tư. Cô rút lọ dầu cù là và mấy viên thuốc hạ sốt khẩn cấp luôn mang theo trong hộp sơ cứu kỹ sư.

“Uống nước đi... nuốt viên thuốc này vào!” Thảo nâng đầu lão lên, kề miệng bi-đông nước ngọt vào đôi môi nứt nẻ.

Dòng nước ngọt mát lành làm Tư Ngạn sặc sụa. Lão ho sù sụ, từng cơn co thắt khiến lồng ngực lép kẹp như muốn vỡ tung. Khối bánh răng đồng nặng gần hai mươi ký tuột khỏi ngực lão, rơi đánh keng xuống nền đá ngập nước.

“Bánh... bánh răng...” Đôi mắt mờ đục, phủ đầy màng nhầy của Tư Ngạn hé mở. Ánh mắt lão hoảng loạn, bàn tay đầy máu quờ quạng trong nước như một kẻ mù lòa tìm kiếm cọng rơm cứu mạng. “Nhông truyền số ba... cáp đứt rồi... đứt rồi... Thuyền không thấy đường... Khiêm ơi...”

“Nó ở đây! Bánh răng vẫn còn nguyên!” Thảo nắm chặt lấy bàn tay đẫm máu của lão, áp nó vào khối kim loại lạnh ngắt để trấn an. “Tôi là kỹ sư máy hàng hải! Tôi đã khóa then hầm rồi! Nghe tôi nói không, ông Tư?”

Ánh mắt đờ đẫn của người gác đèn già từ từ dịch chuyển. Lão nhìn chằm chằm vào khuôn mặt ướt đẫm nước mưa và bồ hóng của Thảo dưới quầng sáng vàng vọt của chiếc đèn bão. Cơn mê sảng dường như kéo giật tâm trí lão trôi nổi giữa hai bờ thực ảo.

“Kỹ sư... dỡ đèn...” Lão thều thào, khóe miệng méo xệch giần giật. “Đừng dỡ... xin các người... hôm nay là ba mươi... trăng lặn rồi... sương muối lên rồi...”

Trong lúc Thảo cúi thấp người xuống để xốc nách kéo ông Tư ngồi tựa vào gờ đá khô ráo hơn, chiếc dây chuyền bằng dù biển lồng bên trong cổ áo bảo hộ của cô tuột ra ngoài.

Vật kim loại hình tròn đung đưa qua lại trước tầm mắt của Tư Ngạn.

Đăng nhập để thả tim Đăng nhập để tương tác

Ủng hộ tác giả Hát Long
Mỗi lời động viên là động lực để tác giả tiếp tục sáng tác.

Hát Long

Tác giả của câu chuyện này · Hãy cùng ủng hộ những chương tiếp theo.

Đăng nhập để theo dõi

Bình luận chương 0

Đăng nhập để tham gia bình luận.

Đang tải bình luận…