Nhịp Chày Đứng Nén Chặt Mối Tình Thâm
Chương 21: Hương Dầu Nén Chặt Tình Thâm
Tiếng pháo đón giao thừa nơi đầu xóm rộ lên giòn giã rồi loang dần trên mặt nước sông Trà Bồng, hòa cùng tiếng chuông chùa Di Đà từ mạn thượng lưu vọng lại từng hồi ngân nga, trầm bổng. Gió đêm trừ tịch thổi qua kẽ liếp mang theo hơi lạnh buốt của sương đông, nhưng trong gian tiền tế của từ đường họ Châu, hơi ấm từ chiếc bễ trấu đặt cạnh bệ ngồi vẫn tỏa ra đượm nồng, ôm trọn lấy thân hình già cỗi của Cụ cố Châu Vĩnh Thuận.
Cụ cố tựa lưng vào chiếc ghế mây, lắng tai nghe từng tiếng động nhỏ đang diễn ra quanh mình. Đôi mắt cụ mờ đục chẳng nhìn rõ hình hài, nhưng đôi tai thấu suốt một trăm hai mươi bảy năm cuộc đời lại vẽ nên từng nét thân thương: tiếng bước chân thoăn thoắt của con Lan trên nền đất nện, tiếng xì xào bàn tính việc họ êm thấm giữa thằng Đạt và thằng Phú, cùng tiếng thở phào nhẹ nhõm của lão Quách Quỳ ngoài hiên.
Mai Lan rón rén bước tới, hai tay bưng chiếc bát sứ hoa lam còn bốc khói nghi ngút, kính cẩn thưa:
— Dạ thưa Cụ Cố, pháo sang canh đã điểm rồi. Con xin dâng Cụ chén trà mộc đầu xuân hái từ đồi Trà Bôi, Cụ nhấp một ngụm cho ấm giọng ạ.
Cụ cố khẽ gật đầu, đưa đôi bàn tay nhăn nheo run rẩy đón lấy chén trà. Hương sen mộc mạc thơm ngát quyện trong vị khói trấu ấm làm lồng ngực cụ nhẹ bẫng. Cụ nhấp một ngụm nhỏ, mỉm cười nghe con cháu xôn xao sửa soạn mâm cỗ giao thừa.
Cách bệ ngồi chừng vài bước chân, tiếng Đạt trầm ấm vang lên:
— Chú Phú, chú cầm góc này, bưng cho phẳng phiu.
— Dạ anh, để em đỡ lấy mé lụa điều.
Cụ cố lắng nghe tiếng hai đứa chắt cẩn trọng bước lên bục hương án. Dưới sự chứng giám của tiên tổ, hai anh em cùng nâng tờ văn tự đất hương hỏa bồi lụa điều đặt trang trọng vào chính giữa mâm đồng. Kế bên tờ văn tự thiêng liêng ấy là chiếc tráp gỗ mở nắp, đựng ngay ngắn những phong bao tiền đồng trích từ khoản lời vừa thu về sau chuyến giao một trăm vò dầu cho thuyền buôn Vạn Hưng.
Phú khẽ thưa trước bàn thờ, giọng rành rọt mà xúc động:
— Lạy tiên tổ họ Châu, ơn nhờ phúc ấm tổ tiên và lời răn của Cụ Cố, anh em con đã chuộc trọn đất hương hỏa, giữ vững lửa lò chày đứng. Chỗ tiền này gồm sáu mươi mốt đồng bảy hào hai xu con để riêng hoàn trả cho bà con xóm giềng, mười tám đồng bạc hoa xòe trả lại bác Ba Quỳ, cùng mười bình men da lươn “Châu Gia Tinh Dầu” biếu tết tạ ơn tấm lòng cưu mang trong cơn hoạn nạn.
Bác Ba Quỳ đứng nép bên cột gỗ mít, nghe nhắc đến mình liền bước vào, xua tay lia lịa:
— Ấy chết, chú Phú tính chi rạch ròi dữ vậy! Bạc dưỡng già của già này để đó đỡ đần lò chày, chú trả vội làm chi. Thấy hai anh em chú như nêm đực nêm cái ghìm chặt lấy nhau, già này dẫu nhắm mắt cũng thỏa lòng rồi!
Cụ cố Thuận nghe vậy thì mỉm cười đôn hậu, giọng cụ khàn khàn nhưng đầm ấm:
— Anh Ba cứ nhận lấy cho tụi nó trọn đạo nghĩa. Ơn một hạt cơm khi đói cũng phải trả bằng cả bát cơm đầy, huống chi là ân tình lúc cơ nghiệp chực chìm xuồng. Đạt, Phú… Tụi bây biết nghĩ trước sau như vậy, tao an lòng lắm.
Hai anh em dạ ran, bước lại quỳ bên mé chiếu, nép đầu vào gối cụ. Bàn tay cụ cố khẽ xoa lên mái tóc đứa chắt nhánh trưởng thô ráp rồi chuyển sang vỗ nhẹ bờ vai đứa chắt nhánh thứ, lòng ngập tràn niềm bình yên chưa từng có.
Đêm trừ tịch dần trôi qua trong làn khói trầm thơm ngát. Khi tiếng gà gáy le te bên bãi dâu báo hiệu rạng đông, ánh bình minh của mùng Một Tết Tân Mùi năm 1931 rải những vệt vàng óng ả lên dòng sông Trà Bồng đang lấp lánh sương sớm. Không khí se lạnh nhưng tràn trề nhựa sống mới.

Bình luận chương 0
Đăng nhập để tham gia bình luận.
Đang tải bình luận…