Ống Nứa Cất Tràm Sưởi Ấm Phá Tam Giang

Chương 2: Di Vật Và Đốm Lửa Lạ

Tiếng rít nghẹn ở cuống họng mạ lịm dần, đôi môi thâm tím run rẩy không còn cất nổi một thanh âm. Trước mắt Khoa, hai tròng mắt chị Thược bắt đầu dại đi vì thiếu hơi thở, hai bàn tay buông thõng khỏi mép chõng tre.

— Mạ! Mạ ơi, mạ đừng bỏ con!

Khoa hét lên một tiếng xé lòng rồi chồm hẳn người lên chõng. Thằng bé tám tuổi dùng hết chút sức lực nhỏ nhoi, ghì chặt lấy thân hình gầy guộc của mạ vào lòng để truyền chút hơi ấm còm cõi. Đôi bàn tay nhỏ cáu bẩn muội than của nó chụm lại, ra sức xoa miết liên hồi lên vùng ngực trơ xương sườn của chị Thược. Nó xoa vòng quanh lồng ngực rồi miết dọc sống lưng, bàn tay chà xát cật lực vào lớp áo vải thô bạc phếch cho đến khi lòng bàn tay nóng rát như phải bỏng.

Gió bấc ngoài vụng đầm phá vẫn thốc từng luồng buốt nhói qua khe liếp rách rưới. Khoa vừa khóc vừa ghé sát miệng phả từng hơi nóng hổi vào hõm cổ mạ, hai tay thoăn thoắt ấn miết không ngừng:

— Mạ thở đi mạ... Con xin mạ, ráng hớp lấy một hơi đi mạ...

Nhờ lực ma sát dồn dập cùng hơi ấm từ tấm thân nhỏ bé của đứa con trai, khối khí lạnh ngưng trệ nơi lồng ngực chị Thược dần tan biến. Một tiếng khục khẽ bật ra từ cuống họng. Lồng ngực người mẹ phập phồng trở lại, đón lấy một ngụm khí lạnh rồi từ từ thở ra một hơi dài dằng dặc. Dù sắc mặt vẫn còn trắng bệch, nhưng nhịp thở khò khè đã dịu bớt phần nào, đôi bàn tay lạnh ngắt khẽ co lại tìm hơi ấm của con. Chị Thược thiếp đi vì kiệt sức.

Khoa buông thõng hai cánh tay mỏi nhừ, cả người run lên bần bật vì sợ hãi lẫn nhẹ nhõm. Thằng bé kéo vội manh chiếu rách đắp kín lên ngực mạ, rồi nép chặt vào bên sườn mẹ, chong mắt canh chừng từng hơi thở yếu ớt suốt đêm trường buốt giá.

Ban mai ló rạng trên đầm phá Tam Giang trong làn sương đông đùng đục. Cái rét cắt da cắt thịt vẫn không hề thuyên giảm. Nhìn gương mặt hốc hác, đôi môi nứt nẻ của mạ nằm thiếp trên chõng, lòng Khoa thắt lại. Nó hiểu rõ, nếu không có thứ gì sưởi ấm phế khí, chỉ cần một đợt gió bấc đêm nay nữa thôi, mạ nó sẽ không thể gượng qua nổi.

Nhìn quanh túp lều rách nát, ánh mắt Khoa dừng lại nơi góc tối ẩm ướt mé chái bếp. Ở đó có một chiếc hòm gỗ mục đã bong tróc từng mảng sơn then — di vật duy nhất của người cha quá cố để lại từ ngày ông qua đời trong một trận bão phá.

Khoa bước khẽ lại gần, quỳ gối cẩn thận cạy nắp hòm kêu cọt kẹt. Bên trong chỉ có vài bộ quần áo nâu sờn rách bốc mùi ẩm mốc. Nhưng khi lật lớp vải lót dưới đáy, ngón tay thằng bé chạm phải một vật nặng và mát lạnh. Đó là chiếc cối đá nhỏ bằng miệng bát, lòng cối nhẵn thín bóng loáng. Ngay bên dưới cối đá là một mảnh giấy bản ố vàng, mép giấy đã mủn vì sương muối nhưng những nét mực nho mộc mạc của cha vẫn còn đọc được.

Khoa chăm chú đánh vần từng dòng chữ cha ghi lại kinh nghiệm dân gian ngày trước: “Lá tràm gió chớ cất tươi, dầu sẽ lẫn nhiều nước lã cay nồng; cũng chớ phơi quá khô, tinh chất sẽ bay theo gió bấc. Tràm hái về phải ủ nơi râm mát cho vừa héo mặt, khi phiến lá mềm dai thì giã nhẹ cho vỡ bọc dầu, lúc đun hơi thơm mới tụ trọn...”

Những dòng chữ như mở ra một cánh cửa trong đầu óc non nớt của Khoa. Nó ôm chặt chiếc cối đá và mảnh giấy vào lòng, mắt sáng lên hy vọng.

Đăng nhập để thả tim Đăng nhập để tương tác

Ủng hộ tác giả Nhật Minh
Mỗi lời động viên là động lực để tác giả tiếp tục sáng tác.

Nhật Minh

Tác giả của câu chuyện này · Hãy cùng ủng hộ những chương tiếp theo.

Đăng nhập để theo dõi

Bình luận chương 0

Đăng nhập để tham gia bình luận.

Đang tải bình luận…