Ống Nứa Cất Tràm Sưởi Ấm Phá Tam Giang
Chương 20: Hơi Ấm Tam Giang
Tiếng búa gõ đục mộng chan chát hòa cùng tiếng hò dô khỏe khoắn của đám trai tráng kéo Khoa trở lại với bến nước Tam Giang. Cậu cẩn thận cất cuốn y thư cổ của cụ Cửu Trực vào chiếc tráp gỗ mun nơi chái lều, rồi bước thoăn thoắt ra mép sóng. Bác Bảy Chài xắn quần ngang đùi, hai tay ghì chặt dóng nứa tép già để thợ chài tra mộng gỗ: — Cháu Khoa coi thử nì! Mộng vát khít rịt như ri, ngâm xuống máng nước lạnh đầm phá thì nửa giọt hơi cũng chẳng lọt ra ngoài được mô hí!
Khoa cúi xuống, đưa ngón tay nhỏ nhắn miết nhẹ lên khớp nứa trét kín bùn non trộn trấu, mỉm cười: — Dạ, khít lắm rồi bác Bảy. Nước đầm chảy tuần hoàn quanh máng tre lạnh buốt, hơi tràm đi qua dóng nứa già nì sẽ ngưng tụ thành từng hạt ngọc trong veo, không sợ hao hụt chi hết.
Bên cạnh ba bệ lò đất nung cũ, ba bệ lò mới toanh vừa đắp bằng đất sét bãi bồi trộn rơm mục đã khô se miệng. Sáu bệ lò vòm đỏ son xếp thành hàng ngay ngắn bên mé cồn cát, như những chiếc mai rùa khổng lồ che chở cho ba mươi sáu nóc nhà chòi nghèo khó. Hôm nay, tổ hợp tác lò tràm tự quản xóm Vạn Chòi chính thức đỏ lửa, bắt đầu những mẻ cất dầu lớn bằng chính sức lực và tình đoàn kết của dân chài.
Khoa quay vào chái bếp, trân trọng bưng chiếc cối đá nhỏ cùng mảnh giấy bản của người cha quá cố ra đặt lên chiếc bàn gỗ giữa sân đất. Bà con xóm vạn xúm xít quây quanh, ánh mắt lấp lánh niềm tin tưởng khôn cùng. Bác Bảy Chài đặt bàn tay thô ráp lên thành cối đá mát rượi, giọng rưng rưng: — Cối đá của ba thằng Khoa để lại, với kinh nghiệm ủ lá gia truyền nì, từ nay là của chung cả xóm mình. Có cối, có nghề, bà con ta cùng làm cùng hưởng, đùm bọc lấy nhau mà sống!
Dưới sự chỉ dẫn của chị Thược, các o, các thím thoăn thoắt gom từng bó tràm tươi vừa hái ở bãi Cồn Cát về trải đều lên nong tre. Bãi tràm bạt ngàn nay đã thuộc quyền khai thác tự do của dân nghèo, không còn bóng dáng đám cai thầu hung hãn xua đuổi. Những bàn tay chai sần khéo léo vò giập mép từng chiếc lá bánh tẻ, rồi ủ kín trong mo cau khô cho se héo ngấu thơm. Mùi lá tràm vò giập bốc lên nồng nàn, the ấm, phủ khắp xóm chài một bầu không khí thanh sạch và ấm cúng.
Khi lá tràm ủ ngấu được nêm chặt vào các nồi đất nung, sáu cửa lò đồng loạt đỏ lửa. Đứng bên mép lò, trong đôi mắt trong veo của Khoa, những quầng nhiệt vô hình lại bừng lên sắc màu kỳ diệu. Dù không còn là mẻ cất bỡ ngỡ đầu tiên, thị giác nhiệt trong tâm thức cậu vẫn hiển hiện rõ từng biến chuyển: sắc xanh lam nhạt của củi ẩm thiếu nhiệt, sắc đỏ rực hung hãn dễ làm cháy khét tinh chất, và quầng sáng vàng mơ êm dịu, thuần hậu như mật ong rừng — độ lửa hoàn hảo nhất của bách nghệ dân gian.
Khoa khẽ mỉm cười. Cậu biết rõ, phép màu thực sự không nằm ở luồng sáng kỳ ảo trong mắt mình, mà bắt nguồn từ tình yêu thương vô bờ dành cho mạ và lòng trắc ẩn với xóm giềng hoạn nạn. Cậu cất kín bí mật sắc lửa ấy vào nơi sâu thẳm nhất của tâm hồn, đúc kết thành bài học mộc mạc trao gửi lại cho bà con: — Các chú các bác nhớ nghen! Củi đun lò tràm phải là củi đước, củi bần khô bửa nhỏ. Khi than đã đượm hồng, ta tản đều than ra bốn góc đáy lò, giữ cho lửa cháy liu riu êm đềm như mắt tằm. Nghe tiếng nước reo rì rầm trong nồi đất, ngửi đầu ống nứa thoang thoảng mùi ngọt mát chứ không hăng nồng, ấy là lúc tràm nhả hết tinh chất quý nhất đó ạ.
Đám thanh niên xóm chài gật đầu lia lịa, khéo léo gắp bớt củi gộc, cào than tản đều theo lời cậu bé. Chẳng mấy chốc, dòng hơi tràm bốc lên, luồn qua dóng nứa tép ngâm chìm dưới làn nước lạnh đầm phá. Tiếng giọt lỏng rơi tí tách vào lòng vò sành rộn rã: Tách... Tách... Từng giọt dầu vàng óng như hổ phách, trong vắt không một gợn cặn, tỏa hương the ấm lan man khắp bến nước Tam Giang.

Bình luận chương 0
Đăng nhập để tham gia bình luận.
Đang tải bình luận…