Thước Thủy Bằng Đồng Nối Lại Mạch Nước Ngầm

Chương 4: Trước cổng Bích Lăng

Dây thừng gai siết nghiến vào hai cổ tay rướm máu của A Lãng, từng tao gai nhọn đâm nhức buốt khi cậu bị lôi xềnh xệch qua cổng thành Bích Lăng. Mũi giáo sắt lạnh toát dí sát sau gáy hối thúc, dồn cậu vào giữa quảng trường cát trắng bỏng rát. Cả thân người gầy gò bị giật ngược ra sau, đè chặt vào chiếc cột gỗ sa mộc đen đúa đã nứt nẻ vì nắng cháy. Vòng dây thừng thứ hai, thứ ba quấn ngang ngực, siết chặt lấy khớp xương sườn khiến lồng ngực cậu nghẽn lại, từng hơi thở phả ra nóng như có hòn than đỏ rực chắn ngang cuống họng.

Cát dưới chân trần như một chảo gang rang lửa. Nắng trưa Bạch Sa Giới dội thẳng từ đỉnh đầu, rát buốt từng thớ thịt. Vết thương nơi bả vai do cán giáo nện lúc nãy nhức nhối từng cơn, máu rỉ thấm qua lần áo vá bết dính vào thân gỗ ráp. Cậu cố há miệng hớp lấy chút dưỡng khí, nhưng bờ môi khô nứt toác chỉ đón được từng luồng gió hanh mang theo bụi cát nồng nặc. Cổ họng cậu cháy rụi, khát đến mức hai mắt hoa lên, những đốm sáng lập lòe chực nuốt chửng lấy tâm trí. Nhưng dù hai gối run rẩy chực sụp xuống, A Lãng vẫn bặm chặt môi, nghiến răng ghì gót chân vào nền cát bỏng, không để bản thân quỵ lụy trước mắt lũ lính giáo sắt.

Trên lầu cao xây bằng đá hoa cương rợp bóng cờ trướng lộng lẫy, Bá tước Cáp Đồ Nhĩ ngồi tựa lưng vào chiếc ghế bọc da lạc đà xa hoa. Thân hình hộ pháp mập mạp của gã bọc kín trong bộ áo giáp thép mạ vàng chói lóa, chiếc bụng phệ nhấp nhô theo từng tiếng cười the thé khó nghe. Tay gã phe phẩy ngọn roi da nạm ngọc tinh xảo, chốc chốc lại đưa chiếc cốc bạc nạm đá quý lên nhấp một ngụm nước trong vắt ướp lạnh, cố ý để vài giọt nước mát rỏ tong tòng xuống nền đá trước mắt đám đông.

Đôi mắt ti hí của Cáp Đồ Nhĩ đảo qua đám phu nghèo đang quỳ rạp sợ sệt phía dưới chân thành, rồi dừng lại nơi A Lãng với cái nhìn cay độc:

“Lũ giòi bọ các ngươi mở to mắt ra mà nhìn! Bồn nước của ốc đảo Bích Lăng là máu thịt của bản bá tước, là ân huệ tối thượng của trời cao ban cho người có giáp trụ! Một thằng ranh con hôi sữa dám ném đá vào xe nước, tức là dám khinh nhờn luật thép của sa mạc!”

Tiếng gã gầm vang qua loa đồng, đập vào vách đá dội lại rền rĩ:

“Bản bá tước sẽ trói nó ở đây phơi nắng cho đến khi khô quắt thành một khúc củi mục! Không một giọt nước, không một bóng râm! Để xem ba ngày ba đêm nữa, cái xương tàn của thứ tiện dân dám chống đối có mọc ra được giọt nước nào để tự cứu lấy mình hay không!”

Từng lời phán truyền độc địa như những nhát búa giáng thẳng vào sự sống mòn mỏi của A Lãng. Đầu cậu ong ong, mi mắt trĩu nặng vì kiệt sức. Cậu ngước nhìn lên lầu cao, nhìn vạt áo giáp vàng chói mắt kia mà nghẹn ngào nghĩ đến mẹ già nơi túp lều rách. Nếu cậu chết ở đây, ai sẽ đi nhặt từng vốc củi khô, ai sẽ chắt chiu từng gáo nước cặn để mẹ qua cơn bạo bệnh?

Đứng cách chiếc cột trói chừng ba bước chân, Đội trưởng Ba Đồ đứng nghiêm như pho tượng đồng. Bàn tay gân guốc của y siết chặt lấy chuôi đao bên hông, chặt đến mức khớp ngón tay trắng bệch, lớp giáp da đính đinh sắt trên ngực phập phồng dồn dập. Từng tia nắng gắt hắt lên khuôn mặt xương xẩu sạm đen của người đội trưởng, làm lộ rõ những vệt cơ mặt đang co giật từng chập.

A Lãng liếc nhìn sang, bắt gặp ánh mắt của Ba Đồ. Trong đôi mắt thâm sâu của viên chỉ huy thiết giáp không hề có vẻ ngạo nghễ của kẻ thắng trận, mà chỉ ngập tràn sự giằng xé buốt nhói. A Lãng biết rõ, mẹ của Ba Đồ cũng là một bà lão lưng còng, ngày ngày cùng mẹ cậu ngồi bên bờ rãnh khô khốc chờ đợi từng ống nước đục. Quân kỷ ràng buộc y dưới chân lãnh chúa, bộ giáp da sắt đè nặng lên vai, nhưng dòng máu chảy trong huyết quản y vẫn thuộc về mảnh đất cằn cỗi này. Ba Đồ khẽ nghiến răng, quay mặt đi chỗ khác để tránh ánh nhìn bộc trực của cậu bé, nhưng sống lưng y cứng đờ như một thanh gỗ mục chực gãy dưới sức nặng của sự dằn vặt.

Nắng càng lúc càng gay gắt. Không khí bốc lên ngùn ngụt làm mép trời như méo mó, biến dạng. Cổ A Lãng nghẹn đắng, hai tai ù đi chỉ còn nghe thấy tiếng gió rít qua những khe nứt của cột gỗ. Đúng lúc ý thức chập chờn giữa tỉnh và mê sắp sửa chìm hẳn vào màn cát trắng mịt mù, một tiếng bước chân bỗng vang lên từ phía cổng thành.

Đó không phải là bước chân rầm rập của những đôi giày sắt, cũng chẳng phải tiếng chạy thục mạng hốt hoảng. Tiếng bước chân ấy chậm rãi, trầm tĩnh, mỗi nhịp giẫm lên cát sỏi đều chắc nịch và khoan thai đến lạ kỳ.

A Lãng dồn hết tàn lực hé mở đôi mi bỏng rát.

Giữa khoảng trống mênh mông của quảng trường lửa cháy, nơi không một bóng người dám đứng thẳng, một bóng áo chàm sờn vai đang đĩnh đạc tiến vào. Cụ Huỳnh Tấn Quý một tay chống gậy gỗ thô mộc, lưng đeo túi da cũ sờn, râu tóc bạc phơ bay nhẹ trong gió cát. Dưới cái nắng thiêu đốt có thể làm nứt toác đá tảng, gương mặt đỏ au của cụ vẫn bình thản như một hồ nước phẳng lặng giữa trưa hè. Cụ không mang theo giáo mác, chẳng có lấy một mảnh giáp che thân, chỉ có đôi mắt nâu sâu thẳm tỏa ra một luồng uy nghiêm đôn hậu, át đi cái hung bạo của hàng trăm mũi giáo tuốt trần xung quanh.

Đăng nhập để thả tim Đăng nhập để tương tác

Ủng hộ tác giả Hát Long
Mỗi lời động viên là động lực để tác giả tiếp tục sáng tác.

Hát Long

Tác giả của câu chuyện này · Hãy cùng ủng hộ những chương tiếp theo.

Đăng nhập để theo dõi

Bình luận chương 0

Đăng nhập để tham gia bình luận.

Đang tải bình luận…