Tiếng Gõ Thước Kẹp Nơi Bến Thuyền Mục
Chương 2: Vệt Bùn Đỏ Dưới Bến Đắm
Ngọn đèn dầu hỏa trên tay ông Khiêm chao đảo dữ dội trước cơn gió thốc từ mặt sông lạnh ngắt. Vệt bọt đỏ quạch sền sệt như máu tươi vẫn từ từ rẽ nước, lách qua kẽ những phiến đá hộc xếp quanh chân móng rồi chầm chậm bò lên thềm hiên xưởng mộc.
Toàn nép chặt vào người ông nội, bàn tay nhỏ bấu chặt vạt áo sờn của ông, cảm nhận rõ rệt từng thớ cơ trên bả vai ông già sáu mươi tám tuổi đang căng cứng. Ánh mắt ông Khiêm đăm đăm nhìn xoáy vào dòng nước tối tăm ngoài bến mục, nơi chiếc sà lan không đèn vừa lướt vụt qua ban nãy. Ông không nói một lời, chỉ kéo Toàn lùi sâu vào trong ngưỡng cửa, hạ then cài chặt chốt gỗ lim. Đêm ấy, tiếng mưa đập ràn rạt trên mái ngói rêu phong hòa cùng tiếng thở dài thườn thượt của ông nội khiến Toàn trằn trọc khôn nguôi.
Sáng sớm hôm sau, khi màn sương mù xám đục còn phủ kín dải cù lao giữa sông Trà Lý, Toàn theo ông Khiêm bước vội ra bến kiểm tra. Cơn mưa rào đêm qua đã dứt, nước lũ bắt đầu rút nhẹ, để lại một cảnh tượng quái gở khiến thằng bé lạnh toát sống lưng.
Dọc theo mép nước ngập mấp mé chân xưởng mộc, một lớp bùn màu đỏ sẫm đặc quánh bám chặt vào từng phiến đá, trét kín những cọc gỗ tiêu và be thuyền mục nát. Lớp bùn đỏ ấy nổi váng lấp lánh như mỡ, bốc lên mùi hôi tanh nồng nặc đến nghẹt thở, ngai ngái lợm giọng tựa mùi rỉ sắt lâu năm ngâm lẫn xác cá sình thối. Những đám bèo tây dạt vào bờ đều bị nhuốm một màu đỏ nhờ nhờ, rễ cây teo tóp rũ rượi như bị lửa táp.
“Ối giời đất ơi! Máu... máu sông nổi lên rồi!”
Tiếng la thất thanh của bác Thao đầu xóm kéo theo bước chân dồn dập của dăm bảy người thợ chài xóm Bến Mộc. Họ đứng túm tụm nơi con dốc đất dẫn xuống bến đắm, ai nấy mặt mày tái mét, không dám bước lại gần mép nước.
“Đúng là oán khí ở Vực Đụn rồi! Mấy chục năm nay có bao giờ sông Trà Lý đùn bọt máu thế này đâu!” Một người đàn ông luống tuổi run rẩy chỉ tay xuống lớp bùn đỏ quạch. “Đêm qua tôi nghe tiếng gõ thước cắc cắc dưới vực sâu... Rõ ràng là hồn ma chết đuối năm xưa không siêu thoát, nay quỷ da trôi nổi lên đòi mạng đấy!”
“Chứ còn ai vào đây nữa!” Người phụ nữ gánh cá chen lời, giọng the thé hoảng loạn. “Năm năm trước chú Thịnh đắm đò chìm nghỉm dưới ấy, bến này đã mang tiếng dữ rồi. Giờ sông lại sôi máu, phen này xóm bãi bồi mình có khi bị hà bá nuốt chửng mất thôi!”
Nghe nhắc đến cha, lồng ngực Toàn thắt lại. Hai bàn tay nhỏ xíu siết chặt thành nắm đấm, móng tay cắm sâu vào lòng bàn tay đau điếng. Nó muốn hét to lên rằng cha nó là người cứu thuyền trượng nghĩa, không bao giờ hóa thành ma quỷ hại ai, nhưng cổ họng nó nghẹn đắng, cay xè.
Toàn quay sang nhìn ông nội. Ông Khiêm đứng lặng ngắt giữa đám đông đang nhốn nháo. Gương mặt khắc khổ của ông đanh lại, lưng còng hơi gập xuống. Ông chẳng buồn thanh minh hay thốt một lời giải thích với xóm giềng, chỉ lẳng lặng cúi người nhặt chiếc cào sắt cán tre dựa bên vách xưởng. Từng nhát cào nặng nề sục sâu vào lớp bùn đỏ quái dị, gạt từng mảng nhầy nhụa hôi tanh hất ngược xuống lòng sông chảy xiết. Bàn tay thô ráp nứt nẻ của ông run rẩy ghìm cán cào, trầm mặc nuốt trọn mọi lời xì xào độc địa của miệng đời.
“Toàn ơi!”
Một tiếng gọi khẽ khàng vang lên sau lưng. Toàn ngoảnh lại, bắt gặp bé Miên đang xách giỏ tre thoăn thoắt lách qua đám người lớn chạy tới. Đôi mắt tròn xoe của con bé ánh lên vẻ lo lắng. Miên kéo Toàn lùi về góc hiên xưởng, kín đáo mở nắp giỏ lấy ra một nắm lá ngải cứu cùng vài nhánh sả vò dập, giúi vội vào tay Toàn.
“Cậu cầm lấy đưa lên mũi ngửi đi cho đỡ buồn nôn,” Miên thì thào, giọng ấm áp và dứt khoát. “Lá thuốc ông ngoại tớ vừa hái sáng sớm đấy. Cậu đừng có nghe mấy bác ấy nói bậy. Ông ngoại tớ bảo người tốt như chú Thịnh cả đời chỉ tích đức cứu người, không đời nào làm ma quỷ quấy phá xóm làng đâu.”

Bình luận chương 0
Đăng nhập để tham gia bình luận.
Đang tải bình luận…