Tiếng Vọng Rỗng Trong Lòng Đất Mù

Chương 21: Tiếng Chuông Hoàn Lương

Tôi bước vội lại gần, khom người luồn tay dưới nách nâng bờ vai khẳng khiu của cụ Lò Văn Khun. Lớp áo chàm dày sực mùi tro trấu run lên bần bật theo từng nhịp nấc nghẹn ngào của người nghệ nhân già. Đôi bàn tay chằng chịt vết sẹo xỉ đồng của cụ bấu chặt lấy cánh tay tôi như cố tìm một điểm tựa vững chãi giữa cơn chấn động tâm can.

– Cụ Khun, đứng lên đi cụ. Mọi chuyện qua rồi, mảnh đất này đã được trả lại sự trong sạch. – Tôi khẽ nói, nhẹ nhàng đỡ cụ đứng thẳng dậy trên nền đá vôi lạo xạo của sân đình.

Ngân cũng bước nhanh tới, cúi nhặt cây gậy gỗ nghiến phủ đầy bụi đất trao lại tận tay già làng. Cụ Khun ngước nhìn khắp lượt bà con bản Ro đang đứng lặng quanh bãi đất. Những ánh mắt nghi kỵ, hoang mang suốt bao ngày qua giờ chỉ còn lại sự thảng thốt và niềm ân hận muộn màng. Đôi mắt đục mờ vì khói lò suốt bảy mươi hai năm cuộc đời của cụ chớp chớp, hai giọt nước mắt lăn dài qua những nếp nhăn sâu hoắm như rãnh nứt chân vách đá.

– Già… già thật có mắt như mù! – Giọng cụ Khun khàn đặc, ngắt quãng trong cơn xúc động. – Bao năm qua, dòng họ Lò cứ khư khư ôm lấy lời nguyền Thần Mỏ, ngỡ rằng giữ kín tiếng chuông rên rỉ trong đêm là che chở cho bản làng. Nào ngờ sự u mê ấy lại mở đường cho kẻ ác khoét rỗng ruột núi non, biến hang Khẳm thành cạm bẫy suýt nữa chôn sống cả thằng Páo… Ơn cứu mạng này, ơn khai sáng này, già và toàn thể bản Ro xin tạc dạ ghi lòng!

Cụ đưa tay gạt giọt lệ trên má, siết chặt cây gậy nghiến rồi nhìn thẳng vào tôi và Ngân:

– Hai cháu theo già về xưởng. Có những điều đã đến lúc phải phơi bày trọn vẹn dưới ánh mặt trời.

Chúng tôi cùng cụ rảo bước về phía gian xưởng đúc đồng nằm nép dưới chân vách đá karst. Lò than nguội lạnh từ đêm qua vẫn vương vãi xỉ than và muội đồng, nhưng bầu không khí ngột ngạt u tối thường ngày dường như đã bị cơn gió trưa xua tan sạch sẽ. Cụ Khun chống gậy đi thẳng vào góc buồng tối, run run mở chiếc hòm gỗ sa mộc cổ đóng bằng mộng tinh xảo đã lên nước đen bóng. Cụ cẩn trọng nâng ra một cuộn giấy dó ngả màu nâu sẫm, bên ngoài bọc cẩn thận bằng hai lớp vải chàm nhuộm vỏ cây.

– Đây là bản vẽ kỹ thuật bí truyền đúc chuông câm do tổ tiên dòng họ Lò truyền lại qua năm đời. – Giọng cụ Khun trầm xuống, trang nghiêm và rành rọt. – Từ xưa, tổ phụ ta dựa vào luồng gió ngầm trong lòng đất mà tính toán độ dày mỏng của vách đồng, góc vát của miệng chuông rỗng để tạo buồng cộng hưởng. Nhưng vì kiêng kỵ và sợ hãi tai ương, tổ tiên chỉ bí mật truyền tay trong tộc, coi đó là mật lệnh của thần linh. Giờ già đã hiểu, giấu giếm chỉ nuôi dưỡng bóng tối và hủ tục, tạo cơ hội cho kẻ gian trục lợi. Già muốn trao lại cuộn vẽ này cho hai cháu, nhờ các nhà khoa học dưới xuôi lập hồ sơ bảo tồn di sản văn hóa phi vật thể cho bản Ro, để con cháu đời sau hiểu rõ tri thức âm học của tiền nhân mà không còn khiếp sợ điều vô căn cứ.

Ngân kính cẩn nâng hai tay đón lấy cuộn giấy dó, ánh mắt ánh lên sự xúc động chân thành:

– Cháu cảm ơn cụ! Cháu hứa với cụ, Viện chúng cháu sẽ hoàn thiện bộ hồ sơ khoa học chuẩn xác nhất, để giá trị văn hóa chân chính của họ Lò và bản Ro được trân trọng, gìn giữ đúng với tầm vóc của nó.

Cụ Khun khẽ gật đầu, ánh mắt chuyển sang đống than gỗ ở góc xưởng rồi cất tiếng gọi trầm ấm:

– Thằng Páo, lại đây với già.

A Páo bước vào, bước chân còn tập tễnh vì chấn thương ở gióng chân, lớp băng vải quanh mạn sườn khẽ cọ vào nẹp áo. Cậu bước tới trước mặt nghệ nhân già, quỳ sụp xuống, hai bàn tay run rẩy dâng lên hai mảnh vòng bạc bện bị bẻ gãy mà tôi vừa trao lại ban trưa:

– Con… con mang tội lớn với tổ tiên, với bản làng…

– Ngẩng mặt lên! – Cụ Khun quát khẽ nhưng trong đáy mắt lại ánh lên vẻ bao dung trìu mến. – Con người miền núi ngã ở dốc nào thì đứng dậy ở dốc ấy. Mày lầm đường vì thương mẹ ốm, nhưng trước họng súng của quân quặng tặc, mày thà chịu đòn roi chứ nhất quyết không hé răng chỉ lối thoát hiểm của dòng họ. Mày đã giữ trọn cái bụng dạ kiên trung của người bản Ro.

Cụ Khun đón lấy hai mảnh bạc, dùng kẹp sắt gắp một mẩu đồng thau thả vào chiếc nồi nấu kim loại nhỏ trên miệng lò. Cụ giật mạnh cần bễ thụt. Gió thốc vào lò than, ngọn lửa xanh rực bùng lên, soi rõ gương mặt quắc thước của người thợ già. Dưới bàn tay lão luyện từng rèn đúc bao mùa trăng, dòng đồng thau nóng chảy ánh lên sắc vàng rực rỡ được cẩn trọng nhỏ vào khe nứt giữa hai mảnh bạc bện. Tiếng xèo xèo vang lên kèm theo làn khói mỏng thơm mùi quặng. Mối hàn đồng thau nguội đi, gắn chặt hai mảnh bạc lại thành một vòng tròn khép kín, bền chặt và rắn rỏi như một vết sẹo kiêu hãnh sau cơn giông bão.

Cụ nhúng chiếc vòng vào chậu nước lã bốc hơi nghi ngút, rồi tự tay tròng chiếc vòng lành lặn vào cổ tay chai sạn của A Páo:

– Chiếc vòng này đã liền lại bằng đồng bản Ro. Từ hôm nay, mày không còn là thằng thợ săn cô độc nữa. Ở lại gian xưởng này, già sẽ đem toàn bộ ngón nghề đúc đồng truyền lại cho mày!

A Páo nghẹn ngào ôm lấy đầu gối cụ Khun, hai hàng nước mắt tuôn trào trên khuôn mặt rám nắng phong sương:

– Con đội ơn cụ! Con thề sẽ dùng nắm củ thuốc rừng quý anh Hoàng và chị Ngân mang về sắc cho mẹ uống dứt cơn sốt rét, rồi ngày đêm ở lại bên lò than phụng dưỡng mẹ, học trọn cái nghề của cụ để giữ lấy tiếng chuông cho bản làng!

Đăng nhập để thả tim Đăng nhập để tương tác

Ủng hộ tác giả ai6
Mỗi lời động viên là động lực để tác giả tiếp tục sáng tác.

ai6

Tác giả của câu chuyện này · Hãy cùng ủng hộ những chương tiếp theo.

Đăng nhập để theo dõi

Bình luận chương 0

Đăng nhập để tham gia bình luận.

Đang tải bình luận…