Tờ Phù Linh Dó Chắn Gió Tiên Môn
Chương 7: Tiếng Chày Dưới Lũng
Tố Oanh đứng nơi bậc cửa lán rèn, hai bàn tay buốt cóng siết chặt vào nhau. Trước mắt nàng, hàng trăm đệ tử tạp dịch nghèo khó vẫn chen chúc giữa khoảng sân lầy lội, những đôi mắt trũng sâu vì mất ngủ bừng lên nỗi khát sống mãnh liệt. Gió bấc từ Đoạn Hồn Hạp rít qua từng khe liếp, buốt rát như châm kim vào da thịt. Những bàn tay chai sần run rẩy chìa ra từng đồng tiền phàm cáu bẩn, từng mẩu quặng vụn hay mớ rau khô, mong đổi lấy một tấm bùa hộ thân bằng xơ vỏ cây.
Nhìn gian lán chật hẹp phía sau với chiếc bồn gỗ đơn độc và vạc tro nếp nhỏ nhoi, Tố Oanh hiểu rằng sức lực ba người dù thức trắng mười đêm cũng chẳng gom đủ bùa che chở cho ngần ấy sinh mệnh. Nàng hít sâu một luồng hàn khí, ánh mắt phẳng lặng bỗng bừng lên nét kiên định.
Nàng bước xuống thềm đá, giơ hai tay ra hiệu cho đám đông lắng lại.
“Các vị sư huynh, sư tỷ, các đệ muội!” Giọng Tố Oanh vang lên trong trẻo, rành rọt át cả tiếng gió gầm. “Lán rèn của Trầm sư huynh chỉ có một bồn vớt, một vạc tro nhỏ, ba người chúng ta dốc hết sức cũng chẳng kham nổi vài chục tấm bùa. Nhưng nếu tất cả cùng chung tay, thung lũng này sẽ có hàng vạn lá bùa chở che qua mùa thú triều!”
Một lão đệ tử lưng còng, đầu quấn mảnh vải rách, ngơ ngác run giọng hỏi:
“Đường cô nương... Bọn lão xưa nay chỉ quen quét tước, cuốc đất, chân tay vụng về thì làm sao biết vẽ bùa dẫn linh?”
“Bùa linh dó cứu mạng không phải nhờ phép thuật cao siêu trên mây son, mà nhờ thớ vỏ cây dẻo dai và bàn tay chịu khó.” Tố Oanh mỉm cười chân thành. “Ta không giấu nghề. Ta sẽ chỉ cho mọi người từ cách chọn vỏ, ngâm tro, giã xơ cho đến kỹ thuật xeo giấy. Đổi lại, ai có sức góp sức, ai có nứa góp nứa, người đi gánh củi, kẻ gom tro rơm. Chúng ta dựng xưởng ngay bên suối Thanh Hàn này!”
Bãi đất trước lán rèn như bừng tỉnh giữa mùa đông rét mướt. Không ai còn chen lấn xin mua bùa nữa, nỗi tuyệt vọng biến thành niềm hy vọng rạng rỡ. Hàng chục đệ tử tạp dịch lập tức chia nhau hành động, tiếng hô hào vang dậy khắp góc rừng.
Người khỏe mạnh vào rặng nứa chặt từng thân nứa bánh tẻ óng ả; người khéo tay mang xẻng cuốc đào rãnh dẫn nước suối Thanh Hàn vào bãi đất trống. Dưới sự chỉ dẫn của Tố Oanh, chỉ sau hai canh giờ chung sức, khi ráng chiều vừa buông xuống thung lũng, một dãy lán nứa lợp mái rơm khô đã mọc lên bên bờ suối.
Bốn bể ngâm bằng đá hộc trét đất sét dẻo đón dòng hàn tuyền buốt giá chảy vào đầy ắp. Ba chiếc vạc gang cũ khiêng từ bếp ăn tạp dịch xuống được kê ngay ngắn trên những kiềng đá đỏ rực than hồng.
Tố Oanh xắn cao tay áo thô, bước đến đống vỏ cây Linh Dó vừa gánh từ bãi phế phẩm Đan Viện về. Nàng nhặt một dải vỏ sẫm màu, bẻ nhẹ để kiểm tra rồi giơ cao cho mọi người cùng thấy:
“Vỏ dó vứt bỏ ven suối bấy lâu ngậm đủ hàn khí dẻo dai, nhưng lớp vỏ ngoài xù xì mang nhiều chất chát cản trở linh khí. Các tỷ muội lấy dao cạo sạch lớp màng đen ấy, chỉ giữ lại phần xơ trắng mềm bên trong. Cạo đến đâu, thả ngay vào vạc nước tro rơm nếp linh cốc đang sôi.”
Nàng vừa làm mẫu vừa giải thích cặn kẽ. Tro rơm nếp xốp mịn hòa vào nước suối sôi sùng sục bốc lên mùi thơm ngai ngái quen thuộc của khói bếp đồng quê. Hơi tro nếp ấm nồng len vào từng thớ vỏ, gột sạch lớp nhựa chát cứng đầu bám chặt bấy lâu, trả lại những bó xơ trắng nõn, mềm mại như dải lụa non.
Tố Oanh cẩn thận dặn dò:
“Mẻ vỏ mới này phải đun tro rơm nếp đủ ba ngày ba đêm mới khử sạch nhựa chát và giữ vẹn nguyên mạch mộc linh. Lửa dưới đáy ba vạc gang tuyệt đối không được tắt, phải thay nhau canh chừng củi đóm thâu đêm suốt sáng.”
Để chuẩn bị cho những ngày tới, Tố Oanh lấy ra bó xơ dó đã ninh tro chín mềm từ mẻ thử nghiệm trước còn lưu trong lán rèn. Nàng đem bó xơ đã giũ sạch nước suối đặt lên phiến cối đá phẳng, hai tay cầm chắc chiếc chày gỗ nghiến giáng xuống nhịp nhàng:

Bình luận chương 0
Đăng nhập để tham gia bình luận.
Đang tải bình luận…