Vạt Vải Chàm Xanh Lặng Sóng Diệp Gia
Chương 5: Bọt Xám Đáy Nồi
Trận cuồng phong dữ dội đêm qua cuối cùng cũng chịu tan đi khi trời rạng dần về sáng. Đám mây xám nặng trĩu trôi dạt về phía rặng núi xa, để lại bầu không khí sau mưa sũng ướt hơi sương lạnh ngắt. Từng giọt nước mưa còn đọng trên mái ngói rêu phong tí tách rơi xuống nền sân gạch, hòa cùng tiếng chổi tre loẹt xoẹt của thợ bạn dọn dẹp cành lá gãy đổ ngoài tiền sảnh.
Nơi dãy nhà chái phía đông, Diệp Khắc Khiêm đã thức giấc từ lúc gà gáy le te góc vườn. Khoác vội chiếc áo vải thô nhuộm chàm đã bạc màu sương gió, ông dắt chiếc khăn lau mồ hôi vào cạp quần rồi bước nhanh ra hàng hiên. Đêm qua sấm chớp ầm ầm quất rát cả song cửa, lòng dạ Khắc Khiêm chẳng lúc nào yên. Hạn hai mươi ngày nộp cây lụa mẫu cho phủ Trấn thủ treo lơ lửng trên đầu, từng giờ từng khắc với phường nhuộm Ngũ Nhã quý như tấc ngọc ròng. Hôm nay chính là buổi sớm then chốt để ông cùng tốp thợ bạn nhúng thử những sải lụa mộc đầu tiên vào mẻ men mẹ trứ danh, đo lường sắc tím biếc trước khi hạ đợt hàng tiến cống.
“Cha dậy sớm thế ạ?”
Diệp Thanh Nhàn từ chái bếp đi ra, mái tóc vấn gọn ghẽ trong vành khăn chàm xanh thẫm, hai tay bưng chiếc mẹt tre đựng mấy cuộn lụa tơ tằm óng ả đã được luộc nước tro trong vắt từ chiều qua. Phía sau cô, hai người thợ bạn khỏe khoắn cũng vừa vác theo mấy thanh dầm gỗ lim và đôi sọt tre ráo nước.
“Đêm qua giông gió dữ quá, cha cứ lo mưa hắt vào mép bạt hậu viện.” Khắc Khiêm mỉm cười hiền từ, đón lấy một góc cuộn lụa trên tay con gái, mắt ngước nhìn về phía rặng sào phơi đang rung rinh đón gió mai. “Chum số bảy nuôi men suốt bốn mươi chín ngày đêm, ngậm đủ cốt rượu nếp cái và tro nếp mục mùa gặt, độ nồng đượm đang lúc mười phần trọn vẹn. Sớm nay chỉ cần nước chàm bắt sắc êm, cha con ta coi như đã yên dạ được một nửa.”
Mấy cha con cùng đám thợ bạn hối hả rảo bước qua khoảng sân gạch rải sỏi hướng về phía hậu viện. Hơi đất ẩm ướt bốc lên ngai ngái xen lẫn hương thơm quen thuộc của cỏ cây sau mưa. Dãy ba mươi sáu chiếc chum sành cổ truyền chôn nửa mình dưới nền đất vẫn nằm im lìm thành ba hàng ngay ngắn. Thế nhưng, vừa đặt chân tới gần mép rãnh thoát nước ngầm rải sỏi, sống mũi Khắc Khiêm bỗng giật thót.
Không có mùi men nồng đượm, thơm dìu dịu như rượu nếp non đang ủ chín thường ngày.
Thay vào đó, một luồng mùi chua khét lẹt nồng nặc, gai góc tởm lợm xộc thẳng vào cánh mũi, khiến cổ họng ông nghẹn ứ, cay sè.
“Kìa cha... mùi gì lạ thế này?” Thanh Nhàn buông thõng góc mẹt tre, khựng người lại, đôi mày thanh tú chau chặt vẻ kinh ngạc. “Không phải hương chàm nhà mình!”
Khắc Khiêm tái mặt, tim đập thình thịch như có ai gióng trống liên hồi nơi ngực áo. Ông lao vụt tới chiếc chum số bảy đặt ở góc hữu. Đập vào mắt ông là chiếc nắp mê tre đậy xộc xệch, mép đan xơ xác còn hở toang hoác một góc lớn, bên dưới vạt đất ẩm ướt quanh miệng chum loang lổ những vệt cặn vôi trắng đục quánh lại tựa bãi cháo thiu.
“Trời đất ơi...”
Khắc Khiêm run rẩy vươn hai bàn tay thô ráp, giật phăng chiếc nắp tre nặng trịch quẳng sang một bên.
Một làn khói mờ nhờ nhạt bốc lên mang theo hơi nóng âm ỉ và mùi vôi chua nồng xộc thẳng vào mặt. Khắc Khiêm lùi lại nửa bước, mắt mở trừng trừng không dám tin vào những gì đang hiện ra trước mắt. Mặt nước chàm tím biếc ánh kim sánh đậm hôm nào nay đã biến mất không còn dấu vết. Thay vào đó là một lớp bọt sủi xám xịt, nhờn nhợt nổi lềnh bềnh trên mặt nước đục ngầu cuộn xoáy. Từng mảng men mẹ chết rũ rượi, vỡ vụn ra thành những mảng cặn xám ngoét trôi lững lờ tựa váng mỡ trâu.
“Không... không thể nào!”
Khắc Khiêm cuống cuồng nhào sang hai chiếc chum số sáu và số tám liền kề. Nắp tre hai chiếc chum ấy cũng bị xô lệch. Mở ra, cả hai bể men chủ lực đều chung một số phận nghiệt ngã: nước men đục cặn, bọt xám sủi tăm ngùn ngụt, mùi chua nồng của vôi sống nung cay bóp nghẹt bầu không khí tinh sương.
“Chum men... men mẹ của họ Diệp...” Bàn tay gân guốc của Khắc Khiêm bấu chặt lấy thành chum sành thô ráp đến mức bật máu nơi đầu ngón tay.
“Cha, để con thử xem sao!” Thanh Nhàn hoảng hốt chạy tới, nhanh tay rút một dải lụa mộc trắng nõn từ trong mẹt, nhúng thẳng vào lòng chum số bảy rồi kéo vụt lên.
Cảnh tượng trước mắt khiến hai người thợ bạn đứng sau sợ hãi thốt lên một tiếng thất thanh. Dải lụa mộc tơ tằm rút lên không hề ngậm sắc xanh biếc huyền ảo của nước chàm già. Trên mặt vải chỉ còn lại những vệt ố vàng khè, lốm đốm những mảng xám xịt tựa da rắn lột. Tệ hơn nữa, hơi nóng tàn độc của vôi sống ăn mòn sợi tơ khiến thớ vải mục mủn ra từng mảnh, vừa giơ lên trước gió đã rách toạc rơi lả tả xuống vũng nước đục ngầu. Cả ba chum men cống phẩm chủ lực đã chết hoàn toàn, không còn lấy một mầm sống.
“Trời phạt ta rồi... Tổ tiên ơi!”
Đôi chân Khắc Khiêm nhũn ra như sợi bún. Ông ngã quỵ xuống nền đất ẩm ướt bên miệng chum số bảy, hai bàn tay nhuốm đầy nước chàm đập thình thịch xuống vũng bùn lầy, nước mắt giàn giụa trên gò má sạm đen dầm mưa dãi nắng. Cả đời ông coi chiếc chum sành như khúc ruột, coi giọt men chàm như sinh mệnh. Hàng chục năm trời chắt chiu từng gáo nước tro, canh từng tuần trăng con nước, vậy mà chỉ qua một đêm giông bão, ba bể men quý giá nhất đã tan thành tro bụi.

Bình luận chương 0
Đăng nhập để tham gia bình luận.
Đang tải bình luận…