Xuyên không thập niên 70

Chương 11: Bát nước chè xanh thưa chuyện

Sương mai tháng Tám âm lịch bảng lảng trôi trên những rặng tre bao quanh xóm trại. Gió sớm đưa hơi nước lành lạnh từ dòng sông Đáy phả vào ngõ xóm, xua đi cái oi nồng sót lại của mùa hè, thấm đẫm mùi phù sa ngai ngái hòa lẫn hương rơm rạ mục sau trận lụt lịch sử.

Hoài An khẽ cựa mình trên chiếc giường tre ọt ẹt. Bàn tay cô bất giác đưa lên mái tóc, chạm vào vật kim loại mát lạnh cài nghiêng nơi bím tóc dày. Những đường chạm khắc hoa mai tỉ mỉ, gồ ghề dưới đầu ngón tay nhắc nhở cô rằng tất cả những gì diễn ra đêm qua bên bến đò Cốc không phải là một giấc chiêm bao. Chiếc kẹp tóc gọt giũa từ mảnh vỏ đạn pháo sáng sông Thạch Hãn vẫn ở đây, tỏa ra một luồng sinh khí ấm áp lạ lùng, xua tan đi cảm giác bơ vơ của một kẻ tha hương trôi dạt từ bốn mươi năm sau trở về.

Dưới bếp, tiếng que củi gãy lách tách cùng mùi khói rạ ngai ngái quen thuộc đã lan tỏa khắp gian nhà. An ngồi dậy, chải lại mái tóc đen nhánh, cẩn thận gài lại chiếc kẹp đồng rồi bước xuống hiên.

Bà Khiêm đang ngồi lom khom bên bếp trấu, chiếc quạt nan phe phẩy nhóm lửa nấu nồi cháo hoa độn khoai lang đỏ. Thấy con gái bước ra, bà ngước đôi mắt kèm nhèm nhìn lên, ánh nhìn thoáng dừng lại trên vật lấp lánh nơi mái tóc An. Khóe môi già nua của bà khẽ mỉm cười ý nhị, nhưng bà không hỏi, chỉ cất giọng hiền từ:

“Dậy rồi đấy hả con? Đêm qua trăng sáng, sương xuống nhiều, u cứ sợ con lại cảm lạnh. Nước nóng u ủ trong ấm tích đấy, múc ra mà rửa mặt cho tỉnh táo.”

“Con phụ u một tay.” An ngồi xuống bên cạnh mẹ, đón lấy chiếc quạt nan.

Cô vừa chụm thêm mấy thanh củi khô vào bếp thì ngoài cổng ngõ rào dâm bụt bỗng vang lên tiếng bước chân quen thuộc. Dù người đi đã cố ý bước thật nhẹ, nhưng nhịp điệu một chân hơi nặng do di chứng vết thương đạn sượt ở chiến trường Tây Nam vẫn không lẫn vào đâu được.

An ngẩng đầu nhìn ra. Trái tim cô bỗng đập rộn lên một nhịp.

Trần Bình bước vào ngõ. Sáng nay, anh không mặc chiếc áo cánh nâu bạc phếch lấm lem bùn đất như mọi bận đi làm đồng. Anh khoác lên mình bộ quân phục Tô Châu màu cỏ úa đã sờn mép cổ nhưng được giặt giũ sạch sẽ, là phẳng phiu bằng chiếc bàn ủi than con gà. Mái tóc cắt cao gọn gàng làm nổi bật khuôn mặt chữ điền cương nghị, sạm màu sương gió. Trên tay anh là một chiếc khay gỗ mộc sơn then đã sứt vài góc, bên trên phủ mảnh vải điều đỏ tươi. Đặt ngay ngắn trên mảnh vải là một cơi trầu têm cánh phượng khéo léo cùng gói chè Ba Đình nhãn giấy xanh – phần thưởng tiêu chuẩn mà Ty Nông nghiệp trao tặng cho anh hôm đón cờ thi đua.

Thấy Bình đàng hoàng đĩnh đạc bước vào sân, bà Khiêm vội buông thanh củi, đứng dậy xoa xoa hai bàn tay vào mép áo cánh, gương mặt lộ rõ vẻ bối rối xen lẫn mừng vui.

Cụ giáo Khiêm trong nhà nghe tiếng động cũng chống chiếc gậy mây bước ra bậu cửa. Căn bệnh ho lao nhờ có nguồn rau xanh đủ chất từ mảnh vườn năm phần trăm và những chén nước thuốc bàng tươi của An đã thuyên giảm nhiều, sắc mặt cụ bớt đi vẻ nhợt nhạt, chỉ còn những cơn húng hắng nhẹ khi trời chuyển gió.

Bình dừng lại trước bậc tam cấp, hạ khay gỗ xuống ngang ngực, đứng nghiêm cẩn cúi đầu chào theo đúng lễ nghi phép tắc của người làng xưa:

“Cháu kính chào thầy, chào u ạ. Cháu mạn phép sang sớm, làm phiền giấc nghỉ của hai cụ.”

Cụ Khiêm nhìn chàng thanh niên đứng trước mặt mình. Ánh mắt cụ lướt qua bộ quân phục chỉnh tề, dừng lại ở cơi trầu têm cánh phượng và gói chè còn nguyên niêm phong, rồi chuyển sang nhìn con gái mình đang e ấp đứng bên bậc cửa. Cụ gật đầu, chòm râu bạc khẽ rung rung, cất giọng trầm ấm:

“Anh Bình đấy à. Khách khí làm gì, mau vào nhà đi con. Sương sớm ngoài trời còn lạnh lắm.”

Gian nhà ba gian đơn sơ bỗng như sáng bừng lên. Nắng sớm rọi qua khe liếp nứa, chiếu những vệt vàng óng ả lên chiếc bàn gỗ mộc mạc đặt giữa nhà. Bình bước vào, cẩn trọng đặt chiếc khay gỗ lên mặt bàn, nơi chiếc điếu bát bằng gốm Thổ Hà đã được lau chùi sạch sẽ.

An khẽ khàng đi ra góc nhà, lấy chiếc ấm tích bọc trong giỏ giăng rơm bổi, rót ra bốn bát nước chè xanh. Nước chè om từ lá chè tươi hái ngoài bờ giậu, xanh trong văn vắt và đặc sánh màu mật ong non, bốc khói nghi ngút, tỏa ra hương thơm chát ngọt làm ấm cả gian phòng.

Cô bưng bát nước chè đầu tiên kính cẩn đặt trước mặt cha, bát thứ hai dâng lên mẹ, rồi mới nhẹ nhàng đặt một bát trước mặt Bình. Khi ngón tay cô lướt qua mép bàn, Bình ngước lên nhìn cô, ánh mắt anh chan chứa sự ấm áp, đầm đầm và vững chãi như núi non, khiến An thoáng đỏ bừng đôi má, vội vã lui về ngồi bên cạnh mẹ mình.

Bình hít một hơi thật sâu, hai bàn tay thô ráp đặt ngay ngắn trên đầu gối. Anh nhìn thẳng vào cụ giáo Khiêm, giọng nói trầm vang, rõ ràng từng lời từng chữ nhưng chứa đựng sự run rẩy xúc động không giấu giếm:

“Thưa thầy, thưa u. Cháu với cô An quen biết nhau từ ngày cô ấy phục viên trở về địa phương, lại cùng công tác trong Đội sản xuất số 3. Qua những ngày tháng cùng bà con lội bùn chống hạn, rồi trận lũ vừa qua cùng nhau hộ đê cứu lúa, cháu càng thấu hiểu nết ăn nết ở, tấm lòng thơm thảo và đức tính kiên trinh của cô ấy. Đêm qua, dưới bóng trăng rằm, cháu đã mạn phép thưa chuyện riêng cùng cô An và được cô ấy mở lòng chấp thuận.”

Bình đứng dậy, hai tay nâng cơi trầu têm cánh phượng lên ngang trán, hướng về phía hai bậc phụ mẫu:

“Hôm nay, cháu mang cơi trầu cay cùng chút hương trà thơm sang đây, trước là kính lễ gia tiên, sau là dập đầu thưa với thầy u. Cháu xin phép hai cụ cho cháu được chính thức đi lại trong gia đình, được nhận gánh vác cùng cô An những nhọc nhằn phía trước, và xin thầy u cho phép chúng cháu tiến tới chuyện trầu cau, làm bạn đời trọn kiếp trọn đời. Cháu là người lính trận trở về, chữ nghĩa không bằng ai, chân tay mang thương tật, nhà cửa lại neo đơn chỉ có mẹ già, nhưng cháu xin lấy danh dự người lính Cụ Hồ và tư cách người Đảng viên ra thề: cả đời này, cháu nguyện đem tấm thân này che chở cho cô An, không để cô ấy phải chịu nửa phần tủi nhục.”

Những lời bộc bạch mộc mạc, chất phác mà nặng tựa thái sơn rơi vào gian nhà tĩnh lặng. Từng giọt sương đọng trên mái rạ khẽ rơi tõm xuống chum nước ngoài sân.

Bà Khiêm không kìm được xúc động, vội kéo vạt áo nâu lên chấm nước mắt nơi khóe mi. Đời người con gái thời loạn lạc, qua bao năm thanh niên xung phong bom đạn dập dồn, nay trở về giữa cảnh đói cơm rách áo, tìm được một người đàn ông trung hậu, gan góc và một lòng một dạ chở che như thế này, bậc làm cha làm mẹ còn mong mỏi gì hơn?

Cụ giáo Khiêm im lặng hồi lâu. Cụ nâng bát nước chè xanh lên, nhấp một ngụm nhỏ, để vị chát đắng đọng lại nơi đầu lưỡi rồi dần chuyển thành vị ngọt hậu sâu lắng nơi cổ họng. Đôi mắt từng trải qua mấy thời kỳ binh lửa của cụ nhìn chăm chú vào Bình, nhìn vào vết sẹo dài kéo từ thái dương xuống gò má và dáng đứng nghiêm trang của người lính.

Cụ đặt bát nước xuống, khẽ thở dài một tiếng, nhưng là tiếng thở dài trút bỏ gánh nặng ngàn cân trong lòng:

“Anh Bình này. Tôi với bà nó ở cái làng An Hòa này từ thuở còn tóc để chỏm. Dòng họ Trần nhà anh bao đời nay sống phúc đức, ăn ở ngay thẳng, làng trên xóm dưới ai cũng trọng. Bản thân anh đi chiến trường, đổ máu vì đất nước trở về, lại vì dân vì xóm Đội 3 mà ngày đêm lăn lộn, tấm lòng ấy trời đất đều soi thấu.”

Cụ Khiêm dừng lại, đưa mắt nhìn lên bàn thờ gia tiên ở gian giữa. Nơi ấy, bên cạnh bát nhang bằng sành thô mộc là một khung ảnh gỗ đã ố màu thời gian. Trong ảnh là một chàng trai trẻ măng, mặc quân phục giải phóng quân, nụ cười rạng rỡ như ánh mặt trời. Đó là anh Hoài Nam – người con trai cả của gia đình, người anh ruột mà An chỉ còn giữ lại ký ức qua những mảnh hồi ức mơ hồ của thân xác này.

Giọng cụ Khiêm bỗng chùng xuống, nghẹn ngào:

“Thằng Nam nhà tôi… nó nhập ngũ năm bảy mốt, vào chiến trường Tây Nguyên đánh trận Đắk Tô – Tân Cảnh rồi hy sinh ở Kon Tum năm bảy hai. Giấy báo tử gửi về làng giữa mùa gặt, mẹ nó ngất lên ngất xuống. Đến nay đất nước thống nhất đã hơn hai năm, mà nắm xương tàn của nó nằm ở cánh rừng nào, ngọn đồi nào nơi chiến trường xa xôi, vợ chồng tôi vẫn chưa lần nào tìm được…”

Cụ Khiêm ho khù khụ, bờ vai gầy run lên bần bật. An vội bước tới, vòng tay xoa nhẹ lưng cho cha, mắt cô rưng rưng ngấn lệ. Nỗi đau mất người thân thời chiến tranh là vết thương rỉ máu âm ỉ trong lòng biết bao gia đình miền Bắc thời bấy giờ, và nhà cụ Khiêm cũng không ngoại lệ.

Chờ cơn ho dứt, cụ Khiêm ngước nhìn Bình, ánh mắt găm sâu niềm tin cậy tuyệt đối:

“Cái An nó là giọt máu còn lại của tôi. Nó đi thanh niên xung phong gian khổ trở về, tính nết nó lầm lì nhưng thương người, hiểu biết sâu sắc. Nay anh thương nó, muốn cùng nó nên duyên cầm sắt, vợ chồng tôi mừng lắm, không có điều chi ngăn cản. Tôi chỉ có một tâm nguyện này gửi gắm nơi anh… Mai này, cuộc sống có yên ổn hơn, thóc gạo có đủ ăn, nếu có cơ duyên, anh hãy cùng con An đi một chuyến vào rừng núi Kon Tum, dò la đồng đội cũ, tìm kiếm phần mộ thằng Nam đem về quê cha đất tổ cho nó khỏi lạnh lẽo… Được như thế, thân già này dưới suối vàng mới nhắm mắt xuôi tay.”

Bình bước lên một bước, đứng thẳng người trước bàn thờ người liệt sĩ trẻ tuổi. Anh giơ tay lên vành mũ theo điều lệnh quân đội, rồi cúi rạp người trước mặt cụ giáo Khiêm:

“Thưa thầy! Anh Hoài Nam ngã xuống nơi chiến trường là người anh hùng của non sông, cũng là người anh ruột thịt của cháu. Cháu xin hứa trước anh linh anh Nam và trước hai cụ: Ngày nào chưa tìm thấy phần mộ anh đưa về đất mẹ, lòng dạ cháu ngày ấy chưa yên. Đời này kiếp này, cháu xin nguyện làm con của thầy u, gánh vác mọi nhọc nhằn thay anh Nam phụng dưỡng hai cụ đến lúc trăm tuổi già.”

Bà Khiêm khóc nấc lên vì xúc động. An nắm chặt lấy tay mẹ, lòng dâng lên một niềm cảm phục và biết ơn vô hạn đối với người đàn ông trước mặt. Anh không hứa hẹn những điều viển vông, xa hoa; mỗi lời anh thốt ra đều nặng như đinh đóng cột, chạm vào nơi sâu kín và thiêng liêng nhất trong tâm khảm gia đình cô.

Cụ Khiêm run run đỡ Bình đứng dậy, bàn tay gầy gò chai sạn của người thầy giáo già vỗ nhẹ lên bờ vai vạm vỡ của anh:

“Tốt lắm… Tốt lắm con ạ. Uống nước đi con. Bát nước chè xanh hôm nay ngọt lắm.”

Buổi thưa chuyện diễn ra trong không khí đầm ấm, mộc mạc và trang trọng. Cụ Khiêm bảo An lấy trầu cau ra têm thêm để biếu bà cụ Mẫn, rồi giục Bình đưa An về bên nhà ra mắt mẹ anh. Đạo lý làng quê ngàn đời nay vẫn thế: xong bên ngoại thì phải sang bên nội, để người mẹ già nơi căn nhà ba gian bên xóm Đông được tỏ tường niềm vui của con trẻ.

*

Con đường đất đỏ chạy dọc bờ kênh dẫn nước từ xóm Chùa sang xóm Đông rợp bóng những rặng tre ngà. Nắng thu đã lên cao, rải một màu vàng hanh hao, trong trẻo như hổ phách xuống những thửa ruộng vừa cày ải chuẩn bị cho vụ đông.

Bình đi bên cạnh An, cố ý đi chậm lại nửa bước để sánh cùng nhịp chân cô. Chiếc kẹp tóc bằng vỏ đạn pháo sáng trên đầu An thỉnh thoảng lại bắt nắng, lấp lánh sắc vàng ấm áp. Mỗi lần có xã viên đi làm đồng ngang qua cất tiếng chào, Bình đều đĩnh đạc mỉm cười đáp lễ, trong mắt không giấu nổi vẻ hãnh diện, tự hào.

“Anh đi đứng cẩn thận, vết thương ở bắp chân mới lên da non, đừng ráng sức quá,” An khẽ nhắc, giọng nói nhỏ nhẹ chỉ đủ hai người nghe.

Bình quay sang nhìn cô, nụ cười rạng rỡ làm bừng sáng khuôn mặt cương nghị sạm màu sương gió:

“Có em chăm thuốc bữa trước, chân anh khỏi hẳn rồi. Giờ bảo anh vác bao thóc năm mươi cân chạy phăng phăng trên đê cũng được.”

“Khéo lại nói khoác,” An lườm anh một cái sắc lẹm nhưng chan chứa ý cười. “Bác sĩ dặn vết rách cơ ngâm nước bùn lâu ngày phải kiêng mang vác nặng ít nhất một tháng. Chiều nay ra đồng, anh mà đụng vào đòn xóc là em mách u đấy.”

Nghe An tự nhiên xưng “u” ngọt xớt, lồng ngực Bình bỗng trào dâng một cảm giác lâng lâng khó tả. Anh khẽ đưa tay sang, chạm nhẹ vào những ngón tay mềm mại của cô, rồi siết chặt lấy. An hơi giật mình, ngượng ngùng liếc nhìn xung quanh xem có ai trông thấy không, nhưng cô không rút tay về, mặc cho hơi ấm thô ráp, nồng đượm từ bàn tay người lính truyền sang da thịt mình.

Căn nhà ba gian của mẹ con Bình nằm nép dưới bóng mát của rặng nhãn cổ thụ ở cuối xóm Đông. Ngôi nhà lợp mái rạ đã ngả màu xám đen vì sương gió, tường trát đất trộn rơm băm mịn màng, sân gạch đỏ rêu phong được quét tước sạch bong không một cọng rác. Trước sân, vài con gà mái tơ đang cặm cụi bới giun bên gốc mít.

Đăng nhập để thả tim Đăng nhập để tương tác

Ủng hộ tác giả ai4
Mỗi lời động viên là động lực để tác giả tiếp tục sáng tác.

ai4

Tác giả của câu chuyện này · Hãy cùng ủng hộ những chương tiếp theo.

Đăng nhập để theo dõi

Bình luận chương 0

Đăng nhập để tham gia bình luận.

Đang tải bình luận…